Skip to Content

Hiệp định về mua sắm chính phủ

Trong Văn kiện cơ bản của WTO, đây là hiệp định quy định về các thủ tục gia nhập  hiệp định về mua sắm của chính phủ được xây dựng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nước thành viên là các quốc gia đang phát triển tham gia hiệp định.

Hiệp định quy định việc tham vấn giữa các quốc gia đã tham gia Hiệp định và các chính phủ có đề nghị gia nhập. Hiệp định quy định sẽ thành lập ban công tác xem xét đề xuất tổng thể của các thành viên xin gia nhập (nói cách khác, là những tổ chức công mà việc mua sẳm có liên quan đến cạnh tranh quốc tế) cũng như các cơ hội xuất khẩu cho các nước xin gia nhập trên thị trường của các thành viên đã tham gia Hiệp định.


HIỆP ĐỊNH

MUA SẮM CHÍNH PHỦ

Lời nói đầu

Các nước tham gia Hiệp định này (sau đây được gọi là các Nước thành viên),

Công nhận nhu cầu thiết lập một khuôn khổ đa phương hiệu quả về quyền và nghĩa vụ liên quan tới luật lệ, qui định, thủ tục và việc thực thi các hoạt động mua sắm chính phủ nhằm tiến tới việc mở rộng sự tự do hoá, mở rộng thương mại thế giới và tăng cường khuôn khổ quốc tế cho các hoạt động thương mại thế giới;

Công nhận rằng không nên xây dựng, thông qua hoặc áp dụng luật lệ, qui định, thủ tục và việc thực thi các hoạt động mua sắm chính phủ đối với hàng hoá nội địa và nước ngoài hoặc đối với nhà thầu trong nước hoặc nhà thầu nước ngoài để nhằm bảo hộ hàng hoá, dịch vụ và nhà thầu trong nước và không được phân biệt đối xử giữa các hàng hoá hoặc các nhà thầu nước ngoài;

Công nhận sự cần thiết trong việc tạo ra luật lệ, qui định, thủ tục và việc thực thi các hoạt động mua sắm chính phủ minh bạch;

Công nhận nhu cầu thiết lập thủ tục quốc tế về việc thông báo, tham vấn, giám sát và giải quyết kiến nghị nhằm đảm bảo việc thực thi các qui định quốc tế về mua sắm chính phủ một cách bình đẳng, nhanh chóng và hiệu quả và nhằm duy trì sự cân bằng quyền lợi và nghĩa vụ ở mức cao nhất có thể;

Công nhận sự cần thiết phải xem xét nhu cầu phát triển, tài chính và thương mại của các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước kém phát triển nhất.

Mong muốn mở rộng và cải tiến Hiệp định này trên cơ sở nhân nhượng giữa các nước thành viên và mong muốn mở rộng phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này để bao gồm hợp đồng dịch vụ, phù hợp với khoản 6(b) Điều IX của Hiệp định mua sắm chính phủ ký ngày 14 Tháng 4 năm 1979 và được sửa đổi ngày mùng 2 Tháng 2 năm 1987,

Mong muốn khuyến khích các quốc gia không phải là các Nước thành viên của Hiệp định này chấp nhận và gia nhập Hiệp định;

Các nước thành viên đã tiến hành đàm phán theo các mục tiêu trên đây;

Dưới đây thoả thuận như sau:


Điều I

Phạm vi điều chỉnh

1. Hiệp định này áp dụng với bất kỳ luật lệ, qui định, thủ tục và việc thực thi nào liên quan tới mua sắm bởi chủ đầu tư thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này, như quy định tại Phụ lục I[5].

2. Hiệp định này áp dụng cho việc mua sắm dưới bất kỳ hình thức hợp đồng nào, bao gồm các hình thức như mua, thuê hoặc thuê mua, với ý định hoặc không có ý định mua lại, bao gồm cả các gói thầu kết hợp cung cấp hàng hóa và dịch vụ.

3. Khi chủ đầu tư, với việc mua sắm thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này, yêu cầu các doanh nghiệp không nằm trong Phụ lục I trao hợp đồng theo quy định riêng, sẽ áp dụng Điều 3 với những sửa đổi thích hợp cho các quy định này.

4. Hiệp định này áp dụng cho các gói thầu có giá gói thầu không thấp hơn ngưỡng giá gói thầu quy định tại Phụ lục I.

Điều II

Xác định giá gói thầu

1. Các điều khoản sau đây sẽ được áp dụng để xác định giá trị của các gói thầu[6] thực hiện lựa chọn nhà thầu theo Hiệp định này.

2. Việc xác định giá trị cần tính toán tất cả các khoản phải trả, bao gồm tất cả các khoản như phí bảo hiểm, lệ phí, hoa hồng, và tiền lãi.

3. Chủ đầu tư không được lựa chọn cách thức xác định giá gói thầu hoặc không được chia nhỏ gói thầu, để nhằm mục đích tránh áp dụng Hiệp định này.

4. Nếu một hoạt động mua sắm độc lập dẫn tới việc ký kết nhiều hơn một hợp đồng, hoặc dẫn đến các hợp đồng được trao cho các nhà thầu theo nhiều phần riêng biệt, cơ sở để xác định giá gói thầu được thực hiện theo một trong hai cách sau :

            a) Giá trị thực tế của hợp đồng mua sắm thường xuyên tương tự được ký kết trong năm tài chính trước đó hoặc được điều chỉnh sau 12 tháng, khi có thể, để tiên liệu những thay đổi về số lượng hoặc giá trị trong 12 tháng tiếp theo  hoặc

b) Giá trị ước tính của hợp đồng mua sắm thường xuyên trong năm tài chính hoặc 12 tháng tiếp theo kể từ hợp đồng gốc ban đầu.

5.         Trong trường hợp gói thầu thuê hoặc thuê mua hàng hóa, dịch vụ, hoặc gói thầu mà không xác định rõ tổng giá gói thầu, cơ sở tính toán giá gói thầu sẽ là:

(a)        Trường hợp hợp đồng đối với gói thầu cố định về thời gian, nếu thời gian thực hiện hợp đồng từ 12 tháng trở xuống, giá gói thầu là tổng giá trị hợp đồng cho toàn bộ thời gian hợp đồng, hoặc nếu thời gian thực hiện hợp đồng lớn hơn 12 tháng, giá gói thầu là tổng giá trị hợp đồng bao gồm giá trị còn lại ước tính của hàng hóa, dịch vụ;

(b)        Trường hợp hợp đồng đối với gói thầu không xác định thời hạn, giá gói thầu bằng giá trị thanh toán hàng tháng nhân với 48.

Trường hợp có nghi ngờ rằng hợp đồng này là hợp đồng cố định về thời gian thì áp dụng cách thức xác định giá gói thầu thứ hai, tức là theo khoản b.

6. Trường hợp trong gói thầu nêu rõ khả năng có thể mua thêm, cơ sở xác định giá gói thầu là tổng giá trị của hoạt động mua sắm tối đa cho phép, bao gồm cả hoạt động có thể mua thêm.

Điều III

Đối xử quốc gia và không phân biệt đối xử

1. Đối với tất cả luật lệ, qui định, thủ tục và việc thực thi liên quan tới mua sắm chính phủ thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này, mỗi nước thành viên sẽ đối xử, ngay lập tức và vô điều kiện cho hàng hóa, dịch vụ và nhà thầu của các nước thành viên khác cung cấp hàng hóa, dịch vụ của các nước này, không kém thuận lợi hơn so với:

(a)   Hàng hóa, dịch vụ và nhà thầu trong nước; và

(b)   Hàng hóa, dịch vụ và nhà thầu của bất kỳ nước thành viên nào khác.

2. Đối với tất cả luật lệ, qui định, thủ tục và việc thực thi liên quan tới mua sắm chính phủ thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này, mỗi nước thành viên sẽ đảm bảo:

(a)        Chủ đầu tư của nước mình sẽ không đối xử với một nhà thầu trong nước kém thuận lợi hơn với một nhà thầu trong nước khác căn cứ vào mức độ sở hữu hoặc liên doanh với nước ngoài; và

(b)        Chủ đầu tư của nước mình sẽ không phân biệt các nhà thầu được thành lập ở trong nước trên cơ sở nước xuất xứ của hàng hóa hoặc dịch vụ được cung cấp, với điều kiện nước xuất xứ là một thành viên của Hiệp định này phù hợp với quy định tại Điều IV.

3.  Các qui định tại khoản 1 và khoản 2 sẽ không áp dụng với thuế xuất nhập khẩu, phí, lệ phí hải quan và các loại phí, lệ phí khác liên quan tới việc nhập khẩu, phương pháp đánh thuế và phí, lệ phí,  các qui định và thủ tục nhập khẩu khác và các biện pháp ảnh hưởng tới thương mại ngoài luật lệ, quy định, thủ tục và việc thực thi mua sắm chính phủ thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này.

Điều IV

Quy tắc xuất xứ

1. Các nước thành viên sẽ không áp dụng qui tắc xuất xứ đối với hàng hóa, dịch vụ được nhập khẩu hoặc được cung cấp  theo các hoạt động
mua sắm chính phủ thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này từ các nước thành viên khác mà quy tắc xuất xứ này khác 
với qui tắc xuất xứ áp dụng trong giao dịch thương mại thông thường và vào thời điểm đang giao dịch để nhập khẩu hoặc cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ cùng loại từ các nước thành viên tương tự.

2. Tiếp theo kết luận về chương trình làm việc để hài hòa hóa quy tắc xuất xứ đối với hàng hóa nhằm thực hiện theo Hiệp định về quy tắc xuất xứ nêu tại Phụ lục 1A của Hiệp định Thiết lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (sau đây gọi là “Hiệp định WTO”) và việc đàm phán về thương mại đối với dịch vụ, các nước thành viên sẽ xem xét kết quả của chương trình làm việc này và những cuộc đàm phàn nói trên trong việc sửa đổi khoản 1 khi thích hợp.

Điều V

Đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển

Mục tiêu

1. Trong việc thực hiện và quản trị Hiệp định này, theo các qui định tại Điều này, các nước thành viên sẽ xem xét thấu đáo nhu cầu phát triển, tài chính và thương mại của các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước kém phát triển nhất nhằm để các nước đang phát triển:

(a) Bảo vệ khả năng của cán cân thanh toán và bảo đảm đủ mức dự trữ ngoại hối cho việc thực hiện các chương trình phát triển kinh tế;

(b) Thúc đẩy việc thành lập hoặc phát triển ngành công nghiệp nội địa bao gồm việc phát triển ngành công nghiệp qui mô nhỏ và thủ công ở vùng nông thôn hoặc khu vực lạc hậu; và phát triển kinh tế trong các lĩnh vực khác của nền kinh tế;

(c) Hỗ trợ các cơ sở công nghiệp nếu các cơ sở này hoàn toàn hoặc về cơ bản dựa vào thị trường mua sắm chính phủ;

(d) Khuyến khích sự phát triển kinh tế thông qua các thỏa thuận khu vực hoặc toàn cầu giữa các nước đang phát triển được trình bày tại Hội nghị Bộ trưởng của Tổ chức Thương mại Thế giới (sau đây gọi là “WTO”) và không bị phản đối bởi Hội nghị này.

2. Phù hợp với các qui định của Hiệp định này, trong việc chuẩn bị và áp dụng các luật lệ, qui định và thủ tục ảnh hưởng tới việc mua sắm chính phủ, các nước thành viên sẽ tạo thuận lợi cho việc tăng nhập khẩu từ các nước đang phát triển với lưu ý về những vấn đề đặc biệt của các nước kém phát triển nhất và những nước ở trình độ phát triển kinh tế thấp.

Phạm vi

3. Nhằm đảm bảo các nước đang phát triển có thể tham gia vào Hiệp định này theo các điều khoản phù hợp với nhu cầu phát triển, tài chính và thương mại của mình, các mục tiêu nêu ra trong khoản 1 ở trên sẽ được xem xét thấu đáo trong quá trình đàm phán về bản chào mở cửa thị trường mua sắm chính phủ của các nước đang phát triển về hoạt động mua sắm thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này. Các nước phát triển, trong việc chuẩn bị bản chào về các hoạt động mua sắm thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này, sẽ nỗ lực đưa vào danh sách các chủ đầu tư mua hàng hóa và dịch vụ mà các nước đang phát triển quan tâm xuất khẩu.

Ngoại lệ được thoả thuận

4. Các nước đang phát triển có thể đàm phán với các nước khác trong quá trình đàm phán Hiệp định này để cùng có thể chấp nhận các ngoại lệ so với các qui định về đối xử quốc gia cho một số chủ đầu tư, hàng hóa và dịch vụ nhất định có trong bản chào của mình, xét tới tình huống cụ thể cho mỗi trường
hợp. Trong các cuộc đàm phán này, những cân nhắc nêu tại khoản 1 (a) đến 1 (c) ở trên sẽ
được xem xét thích đáng. Một nước đang phát triển tham gia vào thoả thuận khu vực hoặc toàn cầu giữa các nước đang phát triển nêu tại khoản 1 (d) ở trên cũng có thể đàm phán các ngoại lệ đối với bản chào của mình, xét tới tình huống cụ thể cho mỗi trường hợp và tính tới các qui định về mua sắm chính
phủ dành cho các thoả thuận khu vực hoặc toàn cầu có liên quan và đặc biệt tính tới hàng hóa hoặc dịch vụ có thể phụ thuộc vào các chương trình phát triển công nghiệp chung.

5. Sau khi Hiệp định có hiệu lực, mỗi nước thành viên là nước đang phát triển có thể sửa đổi bản chào của mình phù hợp với các qui định về việc sửa đổi bản chào qui định tại khoản 6 của
Điều XXIV, có xem xét tới sự phát triển, nhu cầu tài chính và thương mại
hoặc có thể đề nghị Ủy ban mua sắm chính phủ (sau đây gọi là “Ủy ban”) dành ngoại lệ đối với các qui định về đối xử quốc gia cho một số chủ đầu tư, hàng hóa và dịch vụ nhất định có mặt trong bản chào của mình, xét tới tình huống cụ thể cho mỗi trường
hợp và cân nhắc quy định nêu tại khoản 1 (a)  đến 1 (c).

Sau khi Hiệp định có hiệu lực, mỗi nước thành viên là nước đang phát triển có thể đề nghị Ủy ban dành ngoại lệ đối với cho một số chủ đầu tư, hàng hóa và dịch vụ nhất định có mặt trong bản chào của mình phù hợp với sự tham gia vào các thỏa thuận khu vực và toàn cầu giữa các nước đang phát triển, xét tới tình huống cụ thể cho mỗi trường hợp và cân nhắc quy định nêu tại khoản 1 (d). Mỗi một đề nghị của thành viên là nước đang phát triển liên quan tới sửa đổi bản chào sẽ đi kèm với các tài liệu liên quan tới đề nghị này hoặc các thông tin cần thiết để xem xét đề nghị này.

6. Khoản 4 và 5 được áp dụng với những sửa đổi hình hoạt đối với các nước đang phát triển gia nhập Hiệp định này sau khi Hiệp định có hiệu lực.

7. Những loại trừ đã thỏa thuận như trên nêu tại khoản 4, 5 và 6 sẽ được rà soát theo các qui định tại khoản 14 dưới đây.

Trợ giúp kỹ thuật dành cho các nước thành viên là nước đang phát triển

8. Theo đề nghị, các nước thành viên là nước phát triển sẽ cung cấp trợ giúp kỹ thuật phù hợp với các nước thành viên là các nước đang phát triển trong việc giải quyết các vấn đề về mua sắm chính phủ.

9. Trợ giúp này, được cung cấp trên cơ sở không phân biệt đối xử giữa các nước thành viên là nước đang phát triển, sẽ liên quan, với những sửa đổi linh hoạt, tới:

a) Giải pháp về các vấn đề kỹ thuật cụ thể liên quan tới việc trúng thầu một hợp đồng cụ thể; và

b) Bất kỳ vấn đề nào khác mà nước đề nghị và nước khác đồng ý giải quyết trong trường hợp có sự trợ giúp.

10. Hỗ trợ kỹ thuật đề cập tại khoản 8 và khoản 9  nêu trên bao gồm việc biên dịch hồ sơ sơ tuyển và hồ sơ dự thầu của nhà thầu của nước thành viên là nước đang phát triển sang ngôn ngữ chính thức của WTO bởi chủ đầu tư, trừ phi các nước phát triển thành viên thấy rằng việc biên dịch là phiền toái, và trong trường hợp này, lời giải thích sẽ được gửi tới các nước thành viên đang phát triển khi nhận được yêu cầu của họ gửi tới nước thành viên phát triển hoặc gửi tới chủ đầu tư của nước thành viên phát triển.

Trung tâm Thông tin

11. Các bên là nước phát triển sẽ thành lập riêng biệt hoặc thành lập chung các trung tâm thông tin để trả lời những yêu cầu hợp lý từ các thành viên là nước đang phát triển về các thông tin liên quan tới luật, qui định, thủ tục và tập quán về mua sắm chính phủ, thông báo đã được công bố về hoạt động mua sắm dự kiến, địa chỉ của các tổ chức thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này, tính chất và số lượng sản phẩm hoặc dịch vụ đã mua hoặc sẽ được mua sắm, bao gồm cả các thông tin sẵn có về các cuộc đấu thầu trong tương lai. Ủy ban cũng có thể thành lập một trung tâm thông tin.

Đối xử đặc biệt dành cho các nước kém phát triển nhất

12. Xét tới khoản 6 của Quyết định của các Bên tham gia GATT 1947 ngày 28/11/1979 về đối xử đặc biệt, đặc quyền và sự tham gia đầy đủ hơn của các nước đang phát triển (BISD 26S/203-205), đối xử đặc biệt sẽ được dành cho các Bên là nước kém phát triển nhất và đối với nhà thầu thuộc những nước thành viên này có các sản phẩm hoặc dịch vụ có nguồn gốc từ các nước này, trong trường hợp có bất kỳ biện pháp chung hay cụ thể nào dành cho các nước thành viên đang phát triển. Các Bên có thể áp dụng lợi ích/ưu đãi của Hiệp định này cho những nhà thầu ở các nước kém phát triển nhất mà không phải là thành viên của Hiệp định, đối với những sản phẩm hoặc dịch vụ có xuất xứ từ những nước này.

13. Các Bên là nước phát triển sẽ, theo yêu cầu, cung cấp trợ giúp mà họ cho là phù hợp cho nhà thầu tiềm năng ở các nước kém phát triển nhất trong việc nộp hồ sơ dự thầu và lựa chọn các sản phẩm hoặc dịch vụ được các tổ chức của nước đó cũng như nhà thầu ở các nước kém phát triển nhất quan tâm, và đồng thời hỗ trợ các nhà thầu tuân thủ với các quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan tới các sản phẩm hoặc dịch vụ là đối tượng của hoạt động mua sắm dự kiến.

Rà soát

14. Hàng năm, Ủy ban sẽ rà soát việc triển khai và hiệu quả của việc thực hiện Điều này, và cứ sau 3 năm thực hiện, trên cơ sở báo cáo của các Bên, Ủy ban sẽ tiến hành việc rà soát sâu rộng nhằm đánh giá hiệu quả của điều khoản này. Vì là một phần của rà soát 3 năm một lần và nhằm đảm bảo việc thực hiện các quy định của Hiệp định này đạt hiệu quả tối đa, đặc biệt là Điều III,  và xét tới tình hình phát triển, tình hình tài chính và thương mại của các nước đang phát triển liên quan, Ủy ban sẽ xem xét các ngoại lệ đề ra theo quy định tại khoản 4 đến khoản 6 của Điều này có cần được sửa đổi hoặc mở rộng.

15. Trong các vòng đàm phán tiếp theo quy định tại khoản 7 Điều XXIV, mỗi Bên là nước đang phát triển sẽ xem xét khả năng mở rộng danh sách thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định có xét tới tình hình kinh tế, tài chính và thương mại của nước mình.

Điều VI

Tiêu chuẩn kỹ thuật

1. Tiêu chuẩn kỹ thuật nêu đặc tính của sản phẩm hoặc dịch vụ được mua sắm, chẳng hạn như chất lượng, tính năng hoạt động, độ an toàn và kích thước, biểu tượng, thuật ngữ, quy cách đóng gói, ghi nhãn mác và dán nhãn mác, hoặc quy trình và cách thức sản xuất và các yêu cầu về thủ tục chứng nhận sự phù hợp của sản phẩm, dịch vụ do các chủ đầu tư quy định, tiêu chuẩn kỹ

YÊU CẦU DỊCH VỤ/TƯ VẤN

CÔNG TY LUẬT KHAI PHONG
Địa chỉ: P1203 Tòa N2D Khu đô thị Trung Hòa Nhân Chính (Ngã tư Lê Văn Lương - Hoàng Minh Giám), Cầu Giấy, Hà Nội;
Điện thoại: 024.32018868
Email: consult@khaiphong.vn Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
---------------------------------------------------------------------------------

CÁC TIN KHÁC