Skip to Content

Hiệp định về các Biện pháp tự vệ

Điều XIX của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại cho phép một thành viên GATT áp dụng biện pháp tự vệ để bảo vệ ngành công nghiệp nội địa khỏi sự gia tăng đột biến của bất kỳ sản phẩm nhập khẩu nào mà gây ra hoặc đe dọa gây ra tổn hại nghiêm trọng cho ngành công nghiệp đó.

Hiệp định là một bước đột phá mới trong việc hình thành một lệnh cấm đối với các biện pháp “vùng xám”, và đưa ra “điều khoản hoàng hôn” đối với các hành động tự vệ. Hiệp định quy định rằng một thành viên sẽ không yêu cầu, áp dụng hoặc duy trì bất kỳ hạn chế xuất khẩu tự nguyện, thỏa thuận phân chia thị trường, hoặc bất kỳ biện pháp tương tự nào khác đối với việc xuất khẩu hoặc nhập khẩu. Bất cứ biện pháp nào như vậy có hiệu lực tại vào thời điểm thông qua Hiệp định này phải  được thực hiện phù hợp với Hiệp định hoặc từng bước loại bỏ trong vòng 4 năm sau khi hiệp định WTO có hiệu lực. Một ngoại lệ đối với một biện pháp cụ thể áp dụng với mỗi thành viên nhập khẩu, tùy thuộc vào thỏa thuân chung với thành viên có liên quan trực tiếp và thời gian thực hiện sẽ là ngày 31 tháng 12 năm 1999.

Tất cả các biện pháp tự vệ áp dụng theo quy định  tại Điều XIX  GATT 1947 sẽ phải chấm dứt không muộn hơn 8 năm sau khi áp dụng lần đầu tiên hoặc 5 năm sau ngày hiệp định WTO có hiệu lực, tùy thuộc hiệp định nào đến sau.

Hiệp định đặt ra những yêu cầu đối với việc điều tra tự về, bao gồm việc thông báo công khai các phiên thẩm vấn và các biện pháp thích hợp để các bên có liên quan có thể đưa chứng cứ, bao gồm cả việc xem xét xem việc áp dụng biện pháp này có phù hợp với lợi ích chung không. Trong trường hợp khẩn cấp có thể áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời dựa trên phán quyết sơ bộ về tổn hại nghiêm trọng. Thời gian áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời sẽ không được vượt quá 200 ngày.

Hiệp định đưa ra các tiêu chí xác định ”tổn hại nghiêm trọng” và những nhân tố cần được xem xét khi quyết định ảnh hưởng của nhập khẩu. Biện pháp tự vệ sẽ chỉ được áp dụng trong chừng mực cần thiết để ngăn chặn hay khắc phục tổn hại nghiêm trọng và để tạo thuận lợi cho việc điều chỉnh. Nếu biện pháp hạn chế định lượng được áp dụng, thì những biện pháp này sẽ không làm giảm số lượng nhập khẩu dới mức nhập khẩu bình quân của 3 năm đại diện gần nhất có số liệu thống kê trừ khi có chứng cứ rõ ràng rằng cần có một mức khác để ngăn chặn hoặc khắc phục thiệt hại nghiêm trọng.

Về nguyên tắc, những biện pháp tự vệ được áp dụng bất kể từ nguồn nào. Trong trường hợp hạn ngạch được phân bổ giữa các nước xuất khẩu, thành viên áp dụng hạn chế này có thể thỏa thuận với các thành viên khác, các thành viên có lợi ích thiết thực đối với việc cung cấp sản phẩm có liên quan. Thông thường, việc phân bổ hạn ngạch dựa trên cơ sở phần trăm của tổng số lượng hoặc giá trị sản phẩm nhập khẩu trong kỳ đại diện trước. Tuy nhiên, trong quá trình tham vấn dưới sự giám sát của Ủy ban về các biện pháp tự vệ, nước nhập khẩu có thể không thực hiện quy định này nếu nước đó chứng minh được rằng nhập khẩu từ một số Thành viên xác định gia tăng với một tỷ lệ không tương ứng với gia tăng tổng kim ngạch nhập khẩu và việc không thực hiện các quy định này là hợp lý và công bằng đối với tất cả các nước xuất khẩu. Thời gian áp dụng biện pháp tự vệ trong trường hợp này không được vượt quá 4 năm.

Hiệp định đặt ra các thời hạn cho tất cả các biện pháp tự vệ. Nhìn chung, thời gian áp dụng biện pháp sẽ không vượt quá 4 năm mặc dù thời hạn này có thể được kéo dài tối đa đến 8 năm, tùy thuộc vào sự xác định mức độ cần thiết gia hạn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nếu có chứng cứ rõ ràng rằng ngành công nghiệp này đang được điều chỉnh. Bất kỳ biện pháp nào được áp dụng trong khoảng thời gian trên 1 năm sẽ từng bước được nới lỏng trong suốt thời gian áp dụng. Không một biện pháp tự vệ nào được áp dụng trở lại đối với một sản phẩm đã từng bị áp dụng biện pháp này trong  thời hạn bằng  thời hạn mà biện pháp đó đã được áp dụng trước đây với điều kiện là thời hạn không áp dụng phải ít nhất là 2 năm. Có thể áp dụng lại một biện pháp tự vệ đối với việc nhập khẩu một sản phẩm trong thời hạn 180 ngày hoặc ít hơn nếu ít nhất 1 năm sau khi biện pháp tự vệ này được áp dụng  đối với sản phẩm đó, và nếu biện pháp tự vệ này chưa được áp dụng hơn hai lần cho cùng một sản phẩm  trong vòng 5 năm ngay trước ngày áp dụng biện pháp này.

Hiệp định đề xuất sử dụng tham vấn đối với việc bồi thường cho các biện pháp tự vệ. Nếu tham vấn không thành công, các bên bị ảnh hưởng phải thu hồi lại các ưu đãi tương đương hoặc các nghĩa vụ khác quy định trong GATT 1994. Tuy nhiên, phương án này sẽ không được phép áp dụng trong 3 năm đầu áp dụng biện pháp tự vệ nếu biện pháp tự vệ này tuân thủ đúng các điều khoản của hiệp định và được áp dụng trong trường hợp có sự gia tăng nhập khẩu tuyệt đối.

 Các biện pháp tự vệ sẽ không được áp dụng đối với sản phẩm có xuất xứ từ các nước thành viên đang phát triển nếu thị phần sản phẩm liên quan không vượt quá 3%, và với điều kiện là tổng thị phần nhập khẩu từ các Thành viên đang phát triển có thị phần nhập khẩu riêng lẻ nhỏ hơn 3% không vượt quá 9% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm liên quan. Một nước thành viên đang phát triển có quyền kéo dài thời hạn áp dụng biện pháp tự vệ trong thời hạn không quá 2 năm sau khi hết thời hạn tối đa bình thường. Một nước thành viên đang phát triển cũng có thể áp dụng lại một biện pháp tự vệ đối với một sản phẩm đã từng bị áp dụng biện pháp này trước đó sau thời gian bằng một nửa thời gian mà biện pháp này được áp dụng trước đây, với điều kiện là thời gian không áp dụng ít nhất là 2 năm.

Hiệp định này sẽ thành lập nên một Ủy ban về các biện pháp tự vệ có nhiệm vụ giám sát việc thực thi các điều khoản của hiệp định và chịu trách nhiệm giám sát việc thực thi các cam kết.

 

 

HIỆP ĐỊNH VỀ CÁC BIỆN PHÁP TỰ VỆ

Các Thành viên,

            Ghi nhớ rằng mục đích chung của các Thành viên là thúc đẩy và tăng cường hệ thống thương mại quốc tế dựa trên GATT 1994;

            Thừa nhận sự cần thiết phải làm rõ và củng cố các  nguyên tắc của GATT 1994, và đặc biệt là các  quy định tại  Điều 19 (Hành động khẩn cấp về nhập khẩu một số sản phẩm đặc biệt), nhằm thiết lập lại sự giám sát đa phương trên cơ sở các biện pháp tự vệ và triệt tiêu các biện pháp nhằm né tránh sự giám sát này;

            Thừa nhận tầm quan trọng của việc điều chỉnh cơ cấu và sự cần thiết phải tăng cường chứ không phải làhạn chế cạnh tranh trên thị trường quốc tế; và

            Thừa nhận hơn nữa, nhằm thực hiện những mục đích này,  về một hiệp định  toàn diện, áp dụng cho tất cả các Thành viên và dựa trên những nguyên tắc cơ bản của GATT 1994,

           

             Bằng Hiệp định này, thoả thuận như sau:

Điều 1

Quy định chung

            Hiệp định này  thiết lập các quy tắc  áp dụng các biện pháp tự vệ  được hiểu theo nghĩa các biện pháp được quy định tại Điều 19 của GATT 1994.

Điều 2

Các điều kiện

1.         Một Thành viên[1] có thể áp dụng một biện pháp tự vệ cho một sản phẩm chỉ khi Thành viên đó đã xác định được,  phù hợp với những  quy định dưới đây, là sản phẩm đó được nhập vào lãnh thổ của mình khi có sự gia tăng nhập khẩu, tương đối hay tuyệt đối so với sản xuất nội địa, và theo đó có thể gây ra hoặc đe  dọa gây ra tổn hại nghiêm trọng cho ngành công nghiệp nội địa sản xuất ra các sản phẩm tương tự hoặc các sản phẩm cạnh tranh trực tiếp.

2.         Các biện pháp tự vệ sẽ được áp dụng đối với một sản phẩm nhập khẩu bất kể từ nguồn nào.

Điều  3

Điều tra

1.         Một  Thành viên có thể áp dụng biện pháp tự vệ chỉ sau khi cơ quan có thẩm quyền của Thành viên đó tiến hành điều tra theo thủ tục được xây dựng và công bố phù hợp với Điều 10 của Hiệp định GATT 1994. Việc điều tra sẽ bao gồm việc thông báo công khai cho tất cả các bên liên quan, thẩm vấn công khai hoặc các biện pháp thích hợp khác để  nhà nhập khẩu,  nhà xuất khẩu, và các bên có liên quan có thể đưa chứng cứ, quan điểm của họ, bao gồm cả cơ hội được phản biện lý lẽ của bên kia và đưa ra quan điểm của mình nhằm xem xét việc áp dụng biện pháp này có phù hợp với lợi ích chung không. Cơ quan có thẩm quyền sẽ công bố báo cáo kết quả điều tra của mình và các kết luận  thỏa đáng trên cơ sở các vấn đề thực tế và pháp lý.

2.          Mọi thông tin có tính chất bí mật hoặc  được cung cấp trên cơ sở bí mật  phải được các cơ quan có thẩm quyền bảo quản tuyệt mật, dựa trên nguyên nhân được đưa ra. Thông tin này không được tiết lộ nếu không  được   phép của bên cung cấp thông tin. Theo yêu cầu, các bên cung cấp thông tin bí mật có thể đưa ra bản tóm tắt không bí mật những thông tin này, hoặc nếu không đáp ứng được yêu cầu này thì phải đưa ra lý do. Tuy nhiên, nếu cơ quan có thẩm quyền thấy  yêu cầu tuyệt mật không được đảm bảo và nếu bên liên quan cũng không muốn tiết lộ hoặc cho phép tiết lộ công khai dưới dạng khái quát hoặc tóm tắt thông tin này, thì cơ quan chức năng có thể không xem xét đến thông tin này trừ khi nó thể hiện được tính đúng đắn của thông tin.

Điều  4

Xác định tổn hại nghiêm trọng và đe  dọa gây ra tổn hại nghiêm trọng

1.          Theo Hiệp định này:

(a)        "tổn hại nghiêm trọng" được hiểu là sự suy giảm toàn diện đáng kể tới vị trí của ngành công nghiệp nội địa.

(b)        "đe  dọa gây ra tổn hại nghiêm trọng" được hiểu là tổn hại nghiêm trọng rõ ràng sẽ xảy ra, phù hợp với các quy định  tại khoản 2. Việc xác định nguy cơ tổn hại nghiêm trọng phải dựa trên cơ sở thực tế chứ không  phải là phỏng đoán, viện dẫn hoặc khả năng xa; và

(c)        trong khi xác định thiệt hại hay đe  dọa gây thiệt hại, một "ngành sản xuất nội địa" được hiểu là toàn bộ các nhà sản xuất sản phẩm tương tự hoặc các sản phẩm trực tiếp cạnh tranh trong phạm vi lãnh thổ một Thành viên, hoặc tập hợp các nhà sản xuất mà đầu ra của sản phẩm tương tự hoặc trực tiếp cạnh tranh của họ chiếm

YÊU CẦU DỊCH VỤ/TƯ VẤN

CÔNG TY LUẬT KHAI PHONG
Địa chỉ: P212-N4A, Lê Văn Lương, Thanh Xuân, Hà Nội
Điện thoại: 04.35641441 / 39973456 - Fax: 04.35641442
Email: consult@khaiphong.vn Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
---------------------------------------------------------------------------------

CÁC TIN KHÁC