Skip to Content

Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp đối kháng

Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng ra đời dựa trên Hiệp định về Giải thích và Áp dụng Điều khoản VI, XVI và XXIII đã được thảo luận trước đó tại Vòng đàm phán Tokyo.

Không như phiên bản hiệp định trước đó, Hiệp định này quy định định nghĩa về trợ cấp và đưa ra khái niệm về trợ cấp “riêng biệt” - trong hầu hết các trường hợp, là trợ cấp áp dụng riêng đối với một doanh nghiệp, một ngành, một nhóm doanh nghiệp hoặc nhóm ngành trong phạm vi quyền hạn của các cơ quan có thẩm quyền cấp trợ cấp. Hiệp định đưa ra các nguyên tắc xác định trợ cấp riêng biệt.

Hiệp định này quy định 3 loại trợ cấp. Thứ nhất là trợ cấp bị cấm gồm những khoản trợ cấp sau: khối lượng trợ cấp, theo luật hoặc trong thực tế, dù là một điều kiện riêng biệt hay kèm theo những điều kiện khác, căn cứ vào kết quả xuất khẩu; khối lượng trợ cấp, dù là một điều kiện riêng biệt hay kèm theo những điều kiện khác, ưu tiên sử dụng hàng nội địa hơn hàng ngoại. Trợ cấp bị cấm là đối tượng của những vụ kiện giải quyết tranh chấp. Điểm nổi bật là lịch trình giải quyết của Cơ quan Giải quyết Tranh chấp (DSB) nhanh gọn, và nếu cơ quan này nhận thấy rằng khoản trợ cấp này là trợ cấp bị cấm, ngay lập tức phải thu hồi lệnh trợ cấp. Nếu phán quyết không được thực hiện trong thời gian quy định, thành viên khiếu nại được quyền áp dụng các biện pháp trả đũa. (Xem quy định cụ thể tại phần “Giải quyết tranh chấp”).

Thứ hai là Trợ cấp có thể đối kháng. Hiệp định quy định rằng không một Thành viên nào thông qua việc sử dụng  trợ cấp gây ra tác động có hại đến quyền lợi của Thành viên khác, như gây tổn hại cho một ngành sản xuất nội địa của một Thành viên khác, làm vô hiệu hay gây phương hại đến những quyền lợi mà Thành viên khác trực tiếp hoặc gián tiếp được hưởng từ Hiệp định GATT 1994 (đặc biệt là những quyền lợi có được từ những ưu đãi thuế quan có ràng buộc), và gây tổn hại nghiêm trọng đối với lợi ích của Thành viên khác. “Thiệt hại nghiêm trọng” sẽ được xem là tồn tại trong trường hợp tổng trị giá trợ cấp theo trị giá cho một sản phẩm vượt quá 5%. Trong trường hợp này, bên trợ cấp có nghĩa vụ chứng minh rằng những khoản trợ cấp đó không gây ra những thiệt hại nghiêm trọng đối với bên khiếu nại. Những thành viên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi trợ cấp có thể đối kháng có thể đưa tranh chấp này lên cơ quan giải quyết tranh chấp. Trong trường hợp cơ quan giải quyết tranh chấp đưa ra phán quyết có tồn tại tác động tiêu cực, bên trợ cấp phải thu hồi lại khoản trợ cấp hoặc xóa bỏ những tác động tiêu cực này.

Loại thứ 3 là trợ cấp không thể đối kháng, có thể là trợ cấp không mang tính chất riêng biệt hoặc mang tính chất riêng biệt bao gồm hỗ trợ cho các hoạt động nghiên cứu công nghiệp và hoạt động phát triển tiền cạnh tranh, hỗ trợ cho các vùng miền khó khăn, hỗ trợ nhằm xúc tiến nâng cấp những phương tiện hạ tầng hiện có cho phù hợp với yêu cầu mới về môi trường do luật pháp, hay  các quy định đặt ra. Nếu một thành viên cho rằng trợ cấp không thể đối kháng khác sẽ dẫn đến những tác động tiêu cực nghiêm trọng đến ngành công nghiệp nội địa, thành viên đó có thể yêu cầu đưa ra phán quyết và khuyến cáo về vấn đề này.

Một phần của hiệp định này liên quan đến việc áp dụng những biện pháp đối kháng đối với hàng nhập khẩu được trợ cấp. Hiệp định đưa ra những quy chế về việc khởi tố các vụ đối kháng, về việc điều tra bởi các cơ quan có thẩm quyền cấp quốc gia và những quy định về chứng cứ để đảm bảo rằng tất cả những bên có quyền lợi có thể đưa ra thông tin và quan điểm của mình.  Những quy định cụ thể về việc tính toán tổng số trợ cấp là cơ sở để xác định thiệt hại đối với ngành công nghiệp nội địa. Hiệp định quy định rằng tất cả các yếu tố kinh tế có liên quan sẽ phải được xem xét trong quá trình đánh giá tình trạng của ngành công nghiệp và mối quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu được trợ cấp và những thiệt hại suy đoán. Việc điều tra đối kháng phải dừng ngay khi  mức trợ cấp nằm dưới mức tối thiểu (nhỏ hơn 1% theo trị giá) hoặc khi khối lượng hàng nhập khẩu được trợ cấp trên thực tế hoặc ước tính hoặc thiệt hại là không đáng kể. Trừ trường hợp đặc biệt, thủ tục điều tra phải được kết thúc trong thời hạn một năm, và trong mọi trường hợp không quá 18 tháng, kể từ ngày khởi xướng. Thuế đối kháng phải chấm dứt trong vòng 5 năm áp dụng trừ khi các cơ quan có thẩm quyền thông qua rà soát xét thấy việc ngừng áp thuế sẽ dẫn đến sự tiếp tục hay tái diễn trợ cấp và thiệt hại.

Hiệp định này cũng công nhận rằng trợ cấp có thể đóng vai trò quan trọng trong các chương trình phát triển kinh tế của các nước đang phát triển, và trong sự chuyển dịch từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường. Những nước kém phát triển và những nước đang phát triển có Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) bình quân đầu người ít hơn 1000 USD sẽ được miễn khỏi những quy tắc về trợ cấp xuất khẩu bị cấm và hưởng  miễn trừ đối với trợ cấp bị cấp trong một khoảng thời gian nhất định. Đối vớ các nước đang phát triển khác, việc cấm trợ cấp xuất khẩu sẽ có hiều lực trong 8 năm kể từ ngày hiệp định WTO có hiệu lực và những nước này được hưởng sự miễn trừ đối với trợ cấp bị cấm trong một khoảng thời gian nhất định ( khoảng thời gian này sẽ ngắn hơn thời gian của các nước kém phát triển hơn). Việc điều tra đối kháng đối với một sản phẩm xuất xứ từ một nước thành viên đang phát triển sẽ chấm dứt nếu tổng lượng trợ cấp không vượt quá 2% (và xuất xứ từ một số nước đang phát triển là 3%) tính trên trị giá sản phẩm, hoặc nếu khối lượng hàng nhập khẩu được trợ cấp chiếm ít hơn 4% tổng lượng sản phẩm tương tự nhập khẩu của quốc gia nhập khẩu. Đối với những nước đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, trợ cấp bị cấm sẽ không bị tính trong vòng 7 năm kể từ ngày hiệp định này có hiệu lực.

Theo hiệp định về trợ cấp này, trong quá trình đàm phán các quy tắc đặc biệt đối với ngành hàng không dân dụng, các sản phẩm hàng không dân dụng không tuân theo giả định rằng việc trợ cấp theo giá trị vượt quá 5% gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của các nước thành viên. Ngoài ra, hiệp định cũng quy định rằng việc hoàn trả tài chính trong lĩnh vực hàng không dân sự phụ thuộc vào mức độ doanh số sản phẩm bán ra và doanh thu dưới mức mong đợi, bản thân điều này không suy đoán gây thiệt hại nghiêm trọng.

 

HIỆP ĐỊNH

VỀ TRỢ CẤP VÀ CÁC BIỆN PHÁP ĐỐI KHÁNG

Các Thành viên, bằng Hiệp định này, thoả thuận như sau:

PHẦN I: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1

Định nghĩa trợ cấp

1.1                 Theo Hiệp định này, trợ cấp được coi là tồn tại nếu:

(a)(1)       có sự đóng góp về tài chính của chính phủ hoặc một cơ quan công cộng trên lãnh thổ của một Thành viên ( theo Hiệp định này sau đây gọi chung là “chính phủ”) khi:

(i)           chính phủ thực tế có chuyển  trực tiếp các khoản vốn (ví dụ như cấp phát, cho vay, hay góp cổ phần), có khả năng chuyển  hoặc nhận nợ trực tiếp (như  bảo lãnh  tiền vay);

(ii)         các khoản thu phải nộp cho chính phủ đã được bỏ qua hay không thu (ví dụ:  ưu đãi tài chính như miễn thuế )[1];

(iii)      chính phủ cung cấp hàng hoá hay dịch vụ không phải là hạ tầng cơ sở chung, hoặc mua hàng ;

(iv)       chính phủ góp tiền vào một cơ chế tài trợ, hay giao hoặc lệnh cho một  tổ chức tư nhân thực thi một hay nhiều chức năng đã nêu  từ điểm (i)  đến (iii) trên đây, là những chức năng thông thường được trao cho chính phủ và công việc của tổ chức tư nhân này trong thực tế không khác với những  hoạt động thông thuờng của chính phủ.

hoặc

(a) (2) có bất kỳ một hình thức hỗ trợ thu nhập hoặc trợ giá nào theo nội dung Điều XVI của Hiệp định GATT 1994;

(b)      một  lợi ích  được cấp bởi điều đó.

1.2        Trợ cấp  theo định nghĩa tại khoản khoản 1  phải chịu sự điều chỉnh của các quy định tại Phần II hoặc  các quy định  tại Phần III hoặc Phần V chỉ khi đó là một trợ cấp riêng theo các quy định tại Điều 2.

Điều 2

Tính riêng biệt

2.1        Để xác định liệu một trợ cấp  theo định nghĩa tại khoản 1  Điều 1 có  được áp dụng riêng cho một doanh nghiệp hay một nhóm các doanh nghiệp hay ngành sản xuất ( theo Hiệp định này  gọi là “các doanh nghiệp nhất định") trong phạm vi quyền hạn của cơ quan có thẩm quyềncấp trợ cấp hay không, các nguyên tắc sau sẽ được áp dụng:

(a)        Khi  cơ quan có thẩm quyền cấp trợ cấp hay luật mà  cơ quan đó thực hiện  hạn chế rõ ràng diện các doanh nghiệp nhất định được hưởng trợ cấp , thì các trợ cấp đó sẽ mang tính riêng biệt.

(b)                 Khi  cơ quan có thẩm quyền cấp trợ cấp hay luật mà  cơ quan đó thực hiện đặt ra    các tiêu chuẩn khách quan hoặc điều kiện[2] được trợ cấp hay  giá trị khoản trợ cấp,  thì không được coi là có tính riêng biệt nếu  khả năng nhận trợ cấp được mặc nhiên áp dụng  và các tiêu  chuẩn, điều kiện đó được tuân thủ chặt chẽ. Các tiêu  chuẩn hoặc điều kiện đó phải được thể hiện một cách rõ ràng trong  luật, quy  định hoặc tài liệu chính thức khác, để có thể  nhận biết được.

(c)                 Cho dù  bề ngoài không mang tính riêng biệt  do kết qủa của việc áp dụng các nguyên tắc nêu tại điểm (a) và (b), nhưng nếu có lý do để tin rằng,  trợ cấp đó trên thực tế mang tính riêng biệt, thì có thể xem xét đến các yếu tố khác. Các yếu tố đó là: chỉ một số lượng có hạn các doanh nghiệp được  hưởng  trợ cấp trợ cấp nhiều hơn cho một số doanh nghiệp nhất định,  cấp số tiền trợ  cấp chênh lệch lớn cho một số doanh nghiệp  nhất định  và việc này được cơ quan có thẩm quyền thực hiện một cách tuỳ  tiện khi quyết định trợ cấp[3]. Khi áp dụng điểm này, cần tính đến mức độ của việc đa dạng hoá các hoạt động kinh tế trong phạm vi quyền hạn của cơ quan có thẩm quyền cấp trợ cấp, cũng như cần tính tới khoảng thời gian hoạt động của chương trình trợ cấp.

2. 2       Trợ cấp áp dụng  hạn chế đối với các doanh nghiệp nhất định  hoạt động tại một vùng địa lý xác định thuộc quyền hạn của  cơ quan có thẩm quyền  cấp trợ cấp  phải được coi là mang tính riêng biệt.  Việc chính quyền ở tất cả các cấp   quy định  hay thay đổi thuế suất áp dụng chung không được coi là trợ cấp riêng biệt theo Hiệp định này.

2. 3       Bất kỳ trợ cấp nào thuộc  phạm vi điều chỉnh của Điều 3 sẽ được coi là trợ cấp riêng.

2. 4       Việc xác định tính riêng biệt của trợ cấp theo các quy định của Điều này phải được chứng minh rõ ràng trên cơ sở  bằng chứng thực tế.

PHẦN II: TRỢ CẤP BỊ CẤM

Điều 3

Những quy định cấm

3.1       Trừ  khi có quy định khác tại Hiệp định nông nghiệp, các khoản trợ cấp sau đây theo định nghĩa tại Điều 1 sẽ bị cấm:

(a)             quy định khối lượng trợ cấp, theo luật hay trong thực tế[4], dù là một điều kiện riêng biệt hay kèm theo những điều kiện khác, căn cứ vào kết quả thực hiện xuất khẩu, kể cả những khoản trợ cấp minh hoạ tại Phụ lục I[5];

(b)            quy định khối lượng trợ cấp, dù là một điều kiện riêng biệt hay kèm theo những điều kiện khác, ưu tiên sử dụng hàng nội địa hơn hàng ngoại.

3.2       Mỗi Thành viên sẽ không cấp hay duy trì những khoản trợ cấp  nêu tại khoản 1.

Điều 4

 Các chế tài

4. 1       Mỗi khi một Thành viên có lý do để tin rằng một khoản trợ cấp bị cấm đang được một Thành viên khác áp dụng hay duy trì,  thì Thành viên đó có thể yêu cầu được tham vấn với Thành viên kia.

4. 2       Yêu cầu tham vấn  nêu tại khoản 1 phải kèm theo một bản trình bày chứng cứ hiện có về sự tồn tại và tính chất của trợ cấp nói trên.

4. 3       Khi có yêu cầu tham vấn  theo quy định tại khoản 1, Thành viên bị coi là đang áp dụng hay duy trì trợ cấp bị cấm sẽ tiến hành tham vấn trong thời gian sớm nhất có thể được. Mục tiêu tham vấn là nhằm làm rõ sự  thật  tình  và đi đến một thoả thuận chung  giữa các bên.

4. 4       Nếu trong vòng 30 ngày[6] kể từ ngày có yêu cầu tham vấn mà không đạt được một giải pháp được các bên chấp nhận, thì bất kỳ Thành viên nào tham gia tham vấn cũng có thể đưa vấn đề ra Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB "DSB") để ngay lập tức thành lập một ban hội thẩm , trừ khi  DSB nhất trí quyết định không thành lập ban hội thẩm để giải quyết vấn đề đó.

4. 5       Ngay khi được thành lập, ban hội thẩm có thể yêu cầu sự trợ giúp của Nhóm Chuyên gia thường trực[7] ( theo Hiệp định  gọi tắt là "PGE") để đánh giá xem biện pháp đang được  nêu ra có phải là  trợ cấp bị cấm không. Nếu được yêu cầu,  PGE sẽ tiến hành xem xét ngay các chứng cứ về sự tồn tại và tính chất của biện pháp được  nêu ra và sẽ tạo cơ hội để  Thành viên đang áp dụng hay duy trì biện pháp đó  chứng minh rằng biện pháp đó không phải là trợ cấp bị cấm. Trong thời hạn do ban hội thẩm quy định,  PGE sẽ báo cáo kết luận lên ban hội thẩm. Kết luận của  PGE về việc biện pháp được nêu ra có phải là trợ cấp cấm hay không sẽ được ban hội thẩm chấp nhận mà không được phép  sửa đổi

4. 6       Ban hội thẩm sẽ nộp báo cáo cuối cùng cho các bên tranh chấp.  Báo cáo sẽ được gửi cho các Thành viên trong vòng 90 ngày, kể từ ngày ban hội thẩm được  thành lập và các điều khoản tham chiếu được chấp nhận

4. 7       Nếu biện pháp  nêu ra  được xác định là trợ cấp bị cấm, ban hội thẩm sẽ khuyến nghị  Thành viên đang duy trì trợ cấp  bỏ ngay  trợ cấp đó. Ban hội thẩm sẽ nêu rõ trong khuyến nghị thời hạn để  bỏ biện pháp đó.

4. 8       Trong vòng 30 ngày kể từ khi ban hội thẩm gửi báo cáo cho tất cả các Thành viên,  DSB sẽ thông qua báo cáo, trừ khi một bên tranh chấp thông báo chính thức với  DSB về quyết định kháng cáo của mì

YÊU CẦU DỊCH VỤ/TƯ VẤN

CÔNG TY LUẬT KHAI PHONG
Địa chỉ: P212-N4A, Lê Văn Lương, Thanh Xuân, Hà Nội
Điện thoại: 04.35641441 / 39973456 - Fax: 04.35641442
Email: consult@khaiphong.vn Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
---------------------------------------------------------------------------------

CÁC TIN KHÁC