Skip to Content

Hiệp định về Quy tắc Xuất xứ

Mục đích của hiệp định nhằm hài hòa hóa các qui tắc xuất xứ trong dài hạn, thay vì các qui tắc xuất xứ liên quan đến việc cấp ưu đãi thuế quan, và đảm bảo rằng các qui tắc xuất xứ bản thân nó không tạo ra những trở ngại không cần thiết đối với thương mại.

Hiệp định xây dựng một chương trình hài hóa hóa bắt đầu ngay khi vòng đàm phán Uruguay kết thúc và được hoàn thành sau đó 3 năm. Chương trình này được xây dựng dựa trên một bộ nguyên tắc bao gồm quy tắc xuất xứ cần phải khách quan, dễ hiểu và có thể dự đoán trước được. Công việc này được tiến hành bởi Ủy ban về Qui tắc xuất xứ (CRO) của WTO và một Ủy ban Kĩ thuật (TCRO) dưới sự hỗ trợ của Hội đồng Hợp tác Hải quan tại Bỉ.

Để hoàn thành công việc, trong 3 năm nay, Uỷ ban CRO và TCRO đã đạt những chuyển biến đáng kể cho Hiệp định. Tuy nhiên, do tính phức tạp của những vấn đề mà Chương trình hài hòa hóa qui tắc xuất xứ (HWP, harmonization work programme) không thể hoàn thành theo thời hạn mong muốn. Ủy ban CRO tiếp tục hoạt động từ năm 2000. Vào tháng 12 năm 2000, phiên họp đặc biệt Hội đồng Chung nhất trí tiến hành Kỳ họp thứ tư của Hội nghị các Bộ trưởng để lập thời hạn mới cho việc hoàn thành nhiệm vụ còn lại của chương trình, hay muộn nhất là vào cuối năm 2001. Nội dung đàm phán được nêu tại hai văn bản G/RO/41 và G/RO/45.

Cho đến khi chương trình hài hòa hóa hoàn thành, các Thành viên tham gia kí kết hiệp định phải đảm bảo rằng các qui tắc xuất xứ của họ phải minh bạch, không làm hạn chế, bóp méo hay xáo trộn thương mại quốc tế; và các qui tắc này được quản lý thống nhất, nhất quán, công bằng và hợp lý; đồng thời chúng phải được dựa trên một tiêu chuẩn tích cực (hay nói cách khác là các qui tắc nên nói rõ cái gì nên bàn đến nguồn gốc, cái gì không nên).

Phụ lục của hiệp định trình bày tuyên bố chung về việc thực thi quy tắc xuất xứ ưu đãi.

 

HIỆP ĐỊNH VỀ QUI TẮC XUẤT XỨ

Các  Thành viên,

Ghi nhận rằng, ngày 20 tháng 9 năm 1986 các Bộ trưởng đã thoả thuận rằng mục tiêu của Vòng Đàm phán Thương mại Đa biên Uruguay là nhằm "tự do hóa và mở rộng hơn nữa thương mại thế giới", " tăng cường vai trò của GATT" và " nâng cao khả năng đáp ứng của hệ thống GATT đối với việc phát triển môi trường kinh tế quốc tế";

Mong muốn tiếp tục thực hiện các mục tiêu của GATT 1994;

Thừa nhận rằng những quy tắc xuất xứ rõ ràng và dự đoán được trước và việc áp dụng chúng sẽ thúc đẩy dòng chảy thương mại quốc tế;

Mong muốn đảm bảo rằng các qui tắc xuất xứ tự chúng không tạo ra trở ngại không cần thiết với thương mại;

Mong muốn đảm bảo rằng các qui tắc xuất xứ không vô hiệu hóa hay ảnh hưởng đến các quyền của các Thành viên được quy định trong GATT 1994;

Thừa nhận mong muốn các luật, qui định và thực tiễn áp dụng qui tắc xuất xứ được minh bạch;

Mong muốn đảm bảo rằng các qui tắc xuất xứ phải được chuẩn bị và áp dụng một cách vô tư, công khai, có thể dự đoán trước được, nhất quán và trung lập;

Công nhận tính sẵn có của cơ chế tham vấn và thủ tục để giải quyết nhanh chóng, hiệu quả và công bằng các tranh chấp phát sinh  trong phạm vi Hiệp định này;

Mong muốn làm hài hoà và làm rõ các qui tắc xuất xứ;

 Bằng Hiệp định này, thoả thuận  như sau:


PHẦN I

CÁC ĐỊNH NGHĨA VÀ PHẠM VI ÁP DỤNG

Điều 1

Qui tắc xuất xứ

1.         Để thực hiện mục đích của các phần từ Phần I đến Phần IV của Hiệp định này, qui tắc xuất xứ được định nghĩa là những luật, qui định, quyết định hành chính chung do các Thành viên áp dụng để xác định nước xuất xứ của hàng hóa với điều kiện là qui tắc xuất xứ này không liên quan đến thoả thuận thương mại hoặc chế độ thương mại tự chủ có áp dụng ưu đãi thuế quan ngoài phạm vi điều chỉnh của khoản 1 Điều I của GATT 1994.

2.         Qui tắc xuất xứ nêu tại khoản 1 bao gồm tất cả các qui tắc xuất xứ được sử dụng trong các công cụ chính sách thương mại không ưu đãi như đối xử tối huệ quốc theo Điều I, II, III, XI và XIII của GATT 1994, thuế chống phá giá và thuế đối kháng theo Điều VI của GATT 1994, các biện pháp tự vệ theo Điều XIX của GATT 1994, yêu cầu ký hiệu xuất xứ theo Điều IX của GATT 1994 và tất cả các hạn chế số lượng hay hạn ngạch thuế quan áp dụng phân biệt đối xử. Các qui tắc xuất xứ này bao gồm cả qui tắc xuất xứ được sử dụng trong mua sắm chính phủ và số liệu thống kê thương mại[1].

PHẦN II

NGUYÊN TẮC ĐIỀU CHỈNH VIỆC ÁP DỤNG QUI TẮC XUẤT XỨ

Điều 2

Các định chế trong thời gian quá độ

Cho đến khi hoàn thành chương trình hài hoà qui tắc xuất xứ qui định trong Phần IV, các Thành viên phải đảm bảo rằng:

(a)        Khi ban hành quyết định hành chính để áp dụng chung cần phải định nghĩa rõ ràng các yêu cầu. Cụ thể là:

(i)       trường hợp các tiêu chí chuyển đổi hạng mục trên biểu thuế quan được áp dụng, một quy tắc như vậy hoặc bất kỳ ngoại lệ nào khác của quy tắc đó sẽ quy định rành mạch dòng thuế hoặc nhóm các dòng thuế (tương đương 4 số HS –ND) trên biểu thuế chịu sự điều chỉnh của qui tắc đó.

(ii)      trong trường hợp áp dụng tiêu chí theo tỷ lệ phần trăm theo giá trị, cần phải qui định phương pháp tính phần trăm này trong qui tắc xuất xứ.

(iii)     trong trường hợp tiêu chí về công  đoạn chế tác hay gia công được áp dụng, công  đoạn tạo nên xuất xứ của hàng hóa liên quan cần phải được qui định chính xác.

(b)        bất kể biện pháp hay công cụ chính sách thương mại nào có liên hệ với chính sách đó, các quy tắc xuất xứ của chúng không được sử dụng để trực tiếp hay gián tiếp theo đuổi mục tiêu chính sách đó ;

(c)        qui tắc xuất xứ bản thân nó không được tạo ra các tác động hạn chế, bóp méo hay làm rối loạn thương mại quốc tế. Qui tắc xuất xứ không được đưa ra yêu cầu chặt chẽ trái lệ thường hoặc các điều kiện không liên quan đến sản xuất hoặc chế biến như là điều kiện tiên quyết để xác định nước xuất xứ. Tuy nhiên, các yếu tố chi phí không liên quan đến sản xuất hoặc chế biến có thể tính gộp vào để áp dụng tiêu chí tỷ lệ phần trăm theo giá trị phù hợp với  điểm (a);

(d)        qui tắc xuất xứ áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu không được chặt chẽ hơn qui tắc xuất xứ áp dụng để xác định xem một hàng hóa có phải là hàng nội địa hay không và không được phân biệt đối xử giữa các Thành viên khác, bất kể đến mối liên hệ giữa công ty mẹ, công ty con hay chi nhánh[2];

(e)        qui tắc xuất xứ phải được quản lý nhất quán, thống nhất, vô tư và hợp lý;

(f)         qui tắc xuất xứ trong đó nêu những gì không tạo nên xuất xứ hàng hoá (tiêu chuẩn phủ định) cũng được phép coi như một phần của phân loại tiêu chuẩn khẳng định, hoặc trong một số trường hợp cá biệt khi các xác định các tiêu chuẩn khẳng định của xuất xứ là không cần thiết ;

(g)        các luật, qui định dưới luật, quyết định tư pháp và hành chính để áp dụng chung liên quan đến qui tắc xuất xứ sẽ được công bố như là đối tượng chịu sự điều chỉnh và tuân thủ các qui định tại khoản 1 Điều X GATT 1994;

(h)        theo yêu cầu của nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu hoặc bất kỳ người nào có lý do chính đáng, kết quả đánh giá xuất xứ hàng hóa có thể được chấp nhận sớm nhất có thể nhưng không chậm hơn 150 ngày[3], kể từ ngày có yêu cầu đánh giá  với điều kiện đã nộp đầy đủ các yếu tố cần thiết. Yêu cầu đánh giá xuất xứ hàng hóa phải được chấp nhận trước khi hoạt động thương mại đối với hàng hóa đó bắt đầu và có thể được chấp nhận bất kỳ lúc nào sau đó. Kết quả đánh giá xuất xứ hàng hóa có giá trị trong vòng 3 năm nếu như các yếu tố và điều kiện liên quan đến hàng hóa kể cả qui tắc xuất xứ dẫn đến kết quả đó vẫn tương đồng. Trong quá trình rà soát qui tắc xuất xứ theo qui định tại điểm (j) nếu có một quyết định mới trái với kết quả đánh giá xuất xứ hàng hóa thì kết quả đánh giá xuất xứ hàng hóa đó sẽ không còn giá trị nhưng các bên liên quan phải được thông báo trước. Kết quả đánh giá phải được công khai theo qui định tại điểm (k);

(i)         khi có thay đổi trong qui tắc xuất xứ hoặc ban hành các qui tắc xuất xứ mới, các Thành viên không được áp dụng hồi tố những thay đổi này dù các luật, quy định dưới luật có thể quy định và không vì thế làm tổn hại đến chúng;

(j)         bất kỳ một hành động hành chính nào liên quan đến xác định xuất xứ có thể được Toà án, trọng tài hoặc toà án hành chính, độc lập với cơ quan đã ra quyết định và có thể sửa đổi hoặc huỷ bỏ quyết định hành chính đó xem xét lại một cách nhanh chóng;

(k)        tất cả các thông tin bí mật, hoặc được cung cấp trên cơ sở bí mật nhằm thực thi các quy tắc xuất xứ phải được các cơ quan có liên quan bảo đảm tuyệt mật, không tiết lộ thông tin những thông tin đó nếu như không được sự cho phép cụ thể của người hoặc chính phủ cung cấp thông tin, trừ trường hợp phải tiết lộ thông tin ở mức độ nhất định theo yêu cầu của thủ tục tư pháp.

Điều 3

Các  nguyên tắc sau thời kỳ quá độ

Xét rằng mọi Thành viên đều hướng tới lập ra các quy tắc xuất xứ hài hoà, sau khi có kết quả của chương trình hài hòa các qui tắc này, ngay khi triển khai kết quả của chương trình đó, các Thành viên sẽ bảo đảm rằng:

(a)        họ sẽ áp dụng qui tắc xuất xứ như nhau cho tất cả các mục đích nêu tại Điều 1;

(b)        theo qui tắc xuất xứ của mình, một nước được xác định là nước xuất xứ của một hàng hóa cụ thể nếu như hàng  hóa được hoàn toàn sản xuất ra ở nước đó hoặc khi nhiều nước cũng tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hóa đó, thì nước xuất xứ hàng hóa là nước thực hiện công  đoạn chế biến cơ bản cuối cùng.

(c)        qui tắc xuất xứ áp dụng cho hàng hóa xuất và nhập khẩu không được qui định chặt chẽ hơn qui tắc xuất xứ áp dụng để xác định xem một hàng hóa có phải là hàng nội địa không và không được phân biệt đối xử giữa các Thành viên khác, bất kể mối quan hệ giữa công ty mẹ, công ty con hay những chi nhánh giữa nhà sản xuất có liên quan;

(d)        qui tắc xuất xứ được quản lý nhất quán, thống nhất, vô tư và hợp lý;

(e)        tất cả các luật, qui định dưới luật, quyết định tư pháp và hành chính được áp dụng chung liên quan đến qui tắc xuất xứ sẽ được công bố như là đối tượng và phải phù hợp với qui định tại khoản 1 Điều X của GATT 1994;

(f)         theo yêu cầu của nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu hoặc bất kỳ người nào có lý do chính đáng, kết quả đánh giá xuất xứ hàng hóa có thể được chấp nhận sớm nhất có thể nhưng không chậm hơn 150 ngày, kể từ ngày có yêu cầu đánh giá  với điều kiện đã nộp đầy đủ các yếu tố cần thiết. Yêu cầu đánh giá xuất xứ hàng hóa phải được chấp nhận trước khi hoạt động thương mại đối với hàng hóa đó bắt đầu và có thể được chấp nhận bất kỳ lúc nào sau đó. Kết quả đánh giá xuất xứ hàng hóa có giá trị trong vòng 3 năm nếu như các yếu tố và điều kiện liên quan đến hàng hóa kể cả qui tắc xuất xứ dẫn đến kết quả đó vẫn tương đồng. Trong quá trình rà soát qui tắc xuất xứ theo qui định tại điểm (h) nếu có một quyết định mới trái với kết quả đánh giá xuất xứ hàng hóa thì kết quả đánh giá xuất xứ hàng hóa đó sẽ không còn giá trị nhưng các bên liên quan phải được thông báo trước. Kết quả đánh giá phải được công khai theo qui định tại điểm (i);

(g)        khi có thay đổi trong qui tắc xuất xứ hoặc ban hành các qui tắc xuất xứ mới, các Thành viên không được áp dụng hồi tố những thay đổi này dù các luật, quy định dưới luật có thể quy định và không vì thế làm tổn hại đến chúng;

(h)        bất kỳ một hành động hành chính nào liên quan đến xác định xuất xứ có thể được Toà án, trọng tài hoặc toà án hành chính, độc lập với cơ quan đã ra quyết định và có thể sửa đổi hoặc huỷ bỏ quyết định hành chính đó xem xét lại một cách nhanh chóng;

(i)         tất cả các thông tin bí mật, hoặc được cung cấp trên cơ sở bí mật nhằm thực thi các quy tắc xuất xứ phải được các cơ quan có liên quan bảo đảm tuyệt mật, không tiết lộ thông tin những thông tin đó nếu như không được sự cho phép cụ thể của người hoặc chính phủ cung cấp thông tin, trừ trường hợp phải tiết lộ thông tin ở mức độ nhất định theo yêu cầu của thủ tục tư pháp.

YÊU CẦU DỊCH VỤ/TƯ VẤN

CÔNG TY LUẬT KHAI PHONG
Địa chỉ: P212-N4A, Lê Văn Lương, Thanh Xuân, Hà Nội
Điện thoại: 04.35641441 / 39973456 - Fax: 04.35641442
Email: consult@khaiphong.vn Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
---------------------------------------------------------------------------------

CÁC TIN KHÁC