Công ty Luật Khai Phong

KPLC: Tư vấn & Hướng dẫn Nghiên Cứu Chính Sách Đầu Tư & Pháp Lý Báo cáo rà soát Luật Hải quan 2001 ______________________________________________________________________________

Báo cáo rà soát Luật Hải quan 2001

Email In PDF.
Báo cáo rà soát Luật Hải quan 2001

BÁO CÁO TỔNG HỢP

KẾT QUẢ RÀ SOÁT VĂN BẢN PHÁP LUẬT – LUẬT HẢI QUAN 2001, SỬA ĐỔI 2005

(Đặng Thị Bình An – Chủ tịch HĐTV Công ty tư vấn thuế C&A-Trưởng nhóm)

 

Phần I. Rà soát, đánh giá và khuyến nghị

Theo yêu cầu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, chúng tôi đã tiến hành rà soát Luật Hải quan 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan (dưới đây gọi tắt là Luật Hải quan) cũng như các văn bản quy định chi tiết thi hành, đối chiếu với hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung cũng như các chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam đã ký kết tham gia, đồng thời đối chiếu với kết quả theo dõi, tổng hợp những phản ánh vướng mắc của các doanh nghiệp trong thời gian qua nhằm tìm ra những điểm mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu thống nhất, thiếu minh bạch, những điểm không hợp lý gây cản trở, khó khăn cho các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu của hệ thống pháp luật về hải quan nhằm đưa ra những ý kiến góp ý cho Chính phủ và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có cơ sở hoàn thiện thể chế pháp luật một cách có hiệu quả.

Việc rà soát dưới đây được tiến hành dựa trên các tiêu chí:

1.       Tính minh bạch

2.       Tính thống nhất

3.       Tính hợp lý

4.       Tính khả thi

 

Kết quả rà soát và kiến nghị cụ thể được thể hiện theo bảng dưới đây      

 

 

A- RÀ SOÁT, ĐÁNH GIÁ VÀ KHUYẾN NGHỊ CỤ THỂ TỪNG VẤN ĐỀ THEO CÁC TIÊU CHÍ NÊU TRÊN

 

STT

Vấn đề

Quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề

Tiêu chí chưa đạt

Phân tích vấn đề (dựa trên các tiêu chí, nêu rõ khó khăn doanh nghiệp gặp phải do quy định này, v.v…)

1

Quy định về việc giao dịch với cơ quan hải quan thông qua bên thứ ba và đối tượng được hoạt động với tư cách "người khai hải quan” chưa đầy đủ và thống nhất

 

Khoản 7 Điều 4, Điều 21 Luật Hải quan; Điều 5 Nghị định 154/2005/NĐ-CP; Điều 8 Nghị định số 14/2011/NĐ-CP

Tính thống nhất, tính hợp lý,

- Về việc giao dịch với cơ quan hải quan qua bên thứ ba:

Việt Nam đã ký kết gia nhập Công ước quốc tế về đơn giản hoá và hài hoà thủ tục hải quan (Công ước Kyoto sửa đổi) từ năm 2008. Công ước này có quy định về quan hệ giữa bên thứ 3 với cơ quan hải quan như sau:

+ Chuẩn mực 8.2 Phụ lục tổng quát:Luật pháp quốc gia phải quy định những điều kiện trong đó một người có thể hoạt động vì và thay mặt cho một người khác trong quan hệ với cơ quan Hải quan và phải định rõ trách nhiệm của bên thứ ba đó về các khoản thuế hải quan và thuế khác cũng như về bất cứ hành vi vi phạm nào”.

+ Chuẩn mực 8.5 Phụ lục tổng quát: Cơ quan Hải quan phải cho phép bên thứ ba được tham dự vào các cuộc tham vấn chính thức của Hải quan với doanh nghiệp

+ Chuẩn mực 8.6 Phụ lục tổng quát: Cơ quan Hải quan phải quy định rõ những tình huống Hải quan từ chối không tiến hành giao dịch với bên thứ ba”.

+ Chuẩn mực 8.7 Phụ lục tổng quát: Cơ quan Hải quan phải thông báo bằng văn bản cho bên thứ ba về mỗi quyết định không tiến hành giao dịch

Theo định nghĩa của Công ước Kyoto thì “bên thứ ba” là bất cứ người nào giao dịch trực tiếp với cơ quan hải quan, vì lợi ích và thay mặt cho một người khác, liên quan đến việc nhập khẩu, xuất khẩu, vận chuyển hay lưu kho hàng hóa. Như vậy, “bên thứ ba” có thể là đại lý hải quan, người giao nhận hàng, người vận chuyển đa phương thức… và họ có thể thay mặt chủ hàng thực hiện một hoặc một số giao dịch với cơ quan hải quan.

Tuy nhiên, Luật Hải quan mới đề cập đến các nội dung này dưới góc độ bên thứ ba là đại lý hải quan. Điều 21 Luật Hải quan và Điều 8 Nghị định 14/2011/NĐ-CP chỉ đề cập đến nội dung "làm thủ tục hải quan" của đại lý hải quan, thực chất là đại lý khai thuê hải quan. Luật Hải quan chưa đề cập đến các công việc khác trong mối quan hệ giao dịch với cơ quan hải quan. Ví dụ như:  tham vấn giá, khai hồ sơ thanh khoản, khai quyết toán thuế…

Vì vậy, Luật hải quan và các văn bản quy định chi tiết thi hành chưa quy định đầy đủ các nội dung về "bên thứ ba" như Công ước Kyoto nên chưa thực sự tạo thuận lợi để các doanh nghiệp chủ hàng sử dụng dịch vụ đối với các hoạt động không thuộc chuyên sâu của họ, tạo cơ hội cho việc phát triển hoạt động các dịch vụ hải quan.

- Về người khai hải quan:

Chuẩn mực 3.7 Công ước Kyoto quy định: “bất cứ người nào có quyền sắp đặt hàng hoá đều có quyền hoạt động với tư cách người khai hải quan”.

Quy định này đem lại sự thuận tiện quan trọng trong thương mại, theo đó cho phép bất kỳ người nào hoạt động đại diện cho chủ hàng như người vận tải, người nhận hàng, đại lý giao nhận hoặc đại lý hải quan có quyền khai báo hàng hóa. Khoản 7 Điều 4 Luật Hải quan có đưa ra khái niệm “người khai hải quan là…  người được chủ hàng hoá, chủ phương tiện vận tải uỷ quyền” nhưng không có quy định cụ thể về nội dung (đối tượng, quyền, nghĩa vụ…). Đối tượng "người khai hải quan" được chi tiết tại Điều 5 Nghị định 154/2005/NĐ-CP với phạm vi “uỷ quyền” chỉ được áp dụng trong trường hợp:

+ Người được uỷ quyền khai và làm thủ tục cho hàng hoá, vật phẩm xuất khẩu, nhập khẩu không nhằm mục đích thương mại;

+ Đại lý làm thủ tục hải quan.

Như vậy, quy định tại Nghị định hẹp hơn định nghĩa ở Luật và hẹp hơn quy định tại Công ước Kyoto. Việc này đã gây khó khăn cho các doanh nghiệp khi muốn uỷ quyền khai hải quan, làm hạn chế sử dụng dịch vụ trong khai thuê hải quan, dẫn đến hạn chế áp dụng một số điều kiện giao hàng (VD: EXW, DPP) trong thương mại quốc tế.

Khuyến nghị: Từ những phân tích nêu trên, chúng tôi khuyến nghị

Cần sửa đổi, bổ sung Luật Hải quan và Nghị định 154 theo hướng quy định đầy đủ những nội dung về hoạt động của bên thứ ba trong giao dịch với cơ quan hải quan nói chung cũng như “khai hải quan”  nói riêng và quyền, nghĩa vụ của đối tượng này như quy định tại Công ước Kyoto. Cụ thể:

i)                     Quy định rõ các điều kiện để một bên được hoạt động với tư cách là "bên thứ ba", và với tư cách là "người khai hải quan", theo đó ngoài đại lý hải quan cần mở rộng thêm các đối tượng khác như đại lý vận tải, dịch vụ logistic, người được uỷ quyền...;

ii)                   Quy định rõ những trường hợp cơ quan hải quan từ chối tiến hành giao dịch với bên thứ ba;

iii)                  Phân định rõ quyền, nghĩa vụ của "bên thứ ba" và chủ hàng trước pháp luật.

1 (A)

Quy định về đại lý hải quan

Điều 21 Luật Hải quan, Nghị định 14/2011/NĐ-CP, Thông tư

 Tính hợp lý

Quan hệ giữa đại lý hải quan và chủ hàng là quan hệ dân sự, do các bên tự thoả thuận theo Luật Thương mại trên cơ sở hợp đồng đại lý. Tuy nhiên, Điều 8 Nghị định số 14/2011/NĐ-CP lại quy định cụ thể những nội dung hoạt động của đại lý hải quan, theo đó đại lý hải quan được thực hiện các công việc:

1. Khai hải quan;

2. Nộp, xuất trình hồ sơ hải quan;

3. Xuất trình hàng hóa để cơ quan hải quan kiểm tra.

4. Nộp thuế, lệ phí;

5. Khiếu nại.

Như vậy, nếu chủ hàng có yêu cầu ngoài các công việc nêu trên thì đại lý hải quan cũng  không được thực hiện.

Việc Nghị định 14/2011/NĐ-CP quy định  những nội dung hoạt động của đại lý hải quan là không hợp lý, không phù hợp với nguyên tắc "tự do thoả thuận" quy định tại Điều 11 Luật Thương mại.

Tính hợp lý, tính minh bạch,

Hoạt động đại lý hải quan của doanh nghiệp dịch vụ đã được pháp luật thừa nhận . Tuy nhiên, nhiều trường hợp hoạt động đại lý chưa đi vào thực chất (doanh nghiệp dịch vụ là đại diện cho doanh nghiệp chủ hàng) mà nhiều đại lý vẫn hoạt động dưới  danh nghĩa là hoạt động của doanh nghiệp chủ hàng vì những lý do sau :

- Năng lực của doanh nghiệp dịch vụ còn hạn chế;

- Pháp luật chưa quy định cụ thể phạm vi quyền và nghĩa vụ của các bên khi ký hợp đồng đại lý, cụ thể :

Theo Chuẩn mực 8.2 Phụ lục tổng quát Công ước Kyoto thì luật pháp quốc gia phải quy định nghĩa vụ của bên thứ ba về khoản thuế hải quan và về bất cứ hành vi nào trái quy định, khoản tiền phạt hay hình phạt nào đi kèm. Khoản 1 Điều 21 Luật Hải quan quy định đại lý hải quan là người khai hải quan, có nghĩa là có quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan (bao gồm cả nghĩa vụ nộp thuế). Tuy nhiên, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu chỉ đề cập đến người nộp thuế là chủ hàng. Như vậy, cả 2 Luật này đều không quy định rõ ràng nghĩa vụ nộp thuế với cơ quan hải quan trong trường hợp giao dịch qua đại lý hải quan. Ngoài ra, Nghị định 14/2011/NĐ-CP mới đề cập đến nghĩa vụ của đại lý hải quan trong việc thực hiện đúng những công việc được ủy quyền theo hợp đồng đại lý mà chưa quy định nghĩa vụ của đại lý hải quan trước cơ quan hải quan (trước Nhà nước) như thế nào, mà chưa phân định rõ trách nhiệm của chủ hàng và đại lý hải quan trong trường hợp thực hiện không đúng pháp luật hải quan, đặc biệt là trường hợp đại lý hải quan khai sai so với thực tế hàng hóa xuất nhập khẩu. Nếu cho rằng nghĩa vụ của đại lý hải quan trước Nhà nước là thực hiện đúng hợp đồng đại lý thì cũng không phù hợp vì nghĩa vụ trước Nhà nước không thể do các bên thoả thuận thông qua hợp đồng đại lý. Do đó, các doanh nghiệp và cả cơ quan hải quan còn lúng túng trong việc xác định trách nhiệm trước pháp luật của mỗi bên khi có vi phạm pháp luật xảy ra. Doanh nghiệp chủ hàng thường bị xử phạt về tất cả các lỗi vi phạm, bao gồm cả những lỗi vi phạm do đại lý hải quan gây ra.

Tính hợp lý

Nhân viên viên đại lý hải quan do đại lý hải quan tuyển dụng, trả lương, cấp thẻ. Tuy nhiên, Điều 5 và khoản 1 Điều 6 Nghị định 14/2011/NĐ-CP lại quy định thủ tục cấp thẻ - thủ tục nội bộ của doanh nghiệp là không hợp lý. Chính phủ không nên can thiệp sâu vào nội bộ doanh nghiệp mà chỉ nên quy định các điều kiện để được cấp thẻ nhân viên đại lý hải quan và chế tài xử lý đối với trường hợp nhân viên không đủ điều kiện vẫn được đại lý cấp thẻ.

Khuyến nghị:

Cần sửa đổi Nghị định 14/2011/NĐ-CP theo hướng:

i)        Sửa lại Điều 8, không quy định cụ thể những nội dung công việc của đại lý hải quan cũng như việc uỷ quyền giữa các bên mà chỉ quy định khái niệm hoạt động đại lý hải quan;

ii)       Bỏ quy định về thủ tục cấp thẻ nhân việc đại lý hải quan nêu tại Điều 5 và khoản 1 Điều 6 Nghị định số 14/2011/NĐ-CP

iii)     Quy định rõ nghĩa vụ của đại lý hải quan về các khoản thuế và các vi phạm xảy ra.

2

Quy định về thời hạn khai và nộp tờ khai hải quan, giá trị của tờ khai hải quan chưa phù hợp

 

Khoản 1, 2 Điều 18 Luật Hải quan; Điều 27 Thông tư 194/2010/TT-BTC

Tính minh bạch, tính hợp lý

Khoản 1, 2 Điều 18 Luật Hải quan quy định: tờ khai hải quan có giá trị làm thủ tục hải quan trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày đăng ký”. Quy định này được hiểu quá 15 ngày thì tờ khai không còn giá trị làm thủ tục hải quan. Tuy nhiên, Luật Hải quan không quy định làm thủ tục hải quan trong thời hạn 15 ngày” là những khâu nào. Nghị định 154 không quy định chi tiết nội dung này. Vì vậy, cùng một nội dung của Luật nhưng trong quá trình thực hiện đã có nhiều cách hướng dẫn khác nhau. Thông tư 79/2009/TT-BTC hướng dẫn phải bảo đảm nhận hàng/đưa hàng đến cửa khẩu xuất/xuất trình hàng hóa để kiểm tra” trong thời hạn 15 ngày, Thông tư 194/20010/TT-BTC hướng dẫn phải bảo đảm làm xong thủ tục hải quan” trong thời hạn 15 ngày.

Thực tế, nhiều trường hợp vì lý do khách quan hoặc chủ quan mà tờ khai đã đăng ký nhưng chưa được xác nhận làm xong thủ tục hải quan như: chưa được thông quan do có lỗi vi phạm; chỉ được thông quan có điều kiện do thiếu một số chứng từ; bị cơ quan có thẩm quyền tạm giữ. Đối với những trường hợp này, nếu quá 15 ngày tờ khai không có giá trị làm thủ tục thì chỉ rắc rối về thủ tục giải quyết mà không nhằm mục đích quản lý gì.

Ngoài ra, quy định tại khoản 1, 2 Điều 18 được hiểu người khai hải quan được phép khai và nộp tờ khai trước khi hàng đến cửa khẩu, không quy định thời hạn khai trước là bao lâu. Nhưng với quy định về "giá trị làm thủ tục hải quan trong thời hạn 15 ngày" có nghĩa là chỉ cho phép khai trước tối đa 15 ngày. Thời hạn này là quá ngắn, chưa thực sự tạo thuận lợi vì người khai hải quan phải hủy tờ khai và mở tờ khai mới với những nội dung không có gì khác với tờ khai cũ.

 

Tính khả thi

Theo quy định tại chuẩn mực 3.23 Công ước Kyoto "nếu luật pháp quốc gia quy định thời hạn cho việc nộp tờ khai hàng hóa, thời hạn được phép đó phải đủ để cho phép người khai hải quan hoàn thành tờ khai hàng hóa và thu được các chứng từ đi kèm theo yêu cầu";

Chuẩn mực 3.24: "theo yêu cầu của người khai hải quan và nếu có lý do chính đáng, cơ quan hải quan phải gia hạn thời hạn đã quy định cho việc nộp tờ khai hàng hóa".

Như vậy, Công ước Kyoto không quy định luật pháp quốc gia phải quy định thời hạn nộp tờ khai hàng hoá. Thực tế một số nước (VD: Nhật Bản, Hàn Quốc…) không quy định thời hạn nộp tờ khai hàng hoá.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 18 Luật Hải quan thì thời hạn khai và nộp tờ khai là trước hoặc trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hàng về đến cửa khẩu. Luật Hải quan và các văn bản hướng dẫn thi hành không quy định chế độ gia hạn nộp tờ khai hải quan”.

Với trường hợp hàng hóa nhập khẩu có thời gian vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu ngắn (VD: từ  Singapore sang Việt Nam chỉ mất 3-4 ngày) thì thời hạn này không đủ để thực hiện các công việc trong thương mại quốc tế: người xuất khẩu chuẩn bị bộ chứng từ, xin C/O; các ngân hàng tiếp nhận, kiểm tra và chuyển bộ chứng từ đến người nhận khẩu; người nhập khẩu làm thủ tục thanh toán, xin giấy phép.... (theo quy định về cấp phép nhập khẩu tự động thì hồ sơ xin cấp phép phải có đủ vận đơn, hoá đơn thương mại, chứng từ thanh toán và thời gian xin cấp phép là 7 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ).  Do đó, các doanh nghiệp thường không thực hiện đúng thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 18 luật Hải quan và bị xử phạt vi phạm hành chính.

Thực tế các doanh nghiệp vì những lý do khách quan hay chủ quan dẫn đến chậm làm thủ tục nhận hàng, vừa phải chịu phí lưu kho bãi, vừa phải chịu phạt của cơ quan hải quan là rất thiệt thòi.

Khuyến nghị: Chúng tôi khuyến nghị sửa đổi khoản 1, 2 Điều 18 Luật Hải quan và các văn bản hướng dẫn thi hành theo hướng:

i)                     Không quy định thời hạn hoặc kéo dài thời hạn khai và nộp tờ khai hải quan đối với hàng nhập khẩu tối thiểu là 45 ngày, gia hạn 30 ngày, kể từ ngày hàng đến cửa khẩu;

ii)                   Không quy định giá trị hiệu lực của tờ khai nói chung mà quy định việc huỷ tờ khai đối với trường hợp chưa làm xong thủ tục hải quan mà chính sách thuế, chính sách XNK có thay đổi.

3

Quy định về hồ sơ hải quan còn chưa đơn giản, rõ ràng

 

Khoản 1 Điều 22 Luật Hải quan, Điều 7 Nghị định 154/2005/NĐ-CP; Điều 11, Điều 114-117 Thông tư 194/2010/TT-BTC

Tính minh bạch

 

Chuẩn mực 3.16 phụ lục tổng quát công ước Kyoto quy định: "Cơ quan hải quan chỉ yêu cầu những chứng từ cần thiết cho việc kiểm tra thương vụ và để bảo đảm rằng những yêu cầu đối với việc thi hành Luật hải quan đã được tuân thủ".

Chúng tôi ghi nhận rằng thời gian vừa qua Chính phủ và Bộ Tài chính cũng có nhiều nỗ lực trong việc đơn giản hồ sơ, giấy tờ trong hồ sơ Hải quan (VD: bỏ việc nộp C/O, không yêu cầu dịch chứng từ bằng tiếng Anh...). Nhưng chúng tôi vẫn cho rằng quy định về hồ sơ hải quan vẫn chưa đơn giản và rõ ràng, cụ thể:

Khoản 1 Điều 22 Luật Hải quan quy định về hồ sơ hải quan, tại điểm đ có đề cập đến "các chứng từ khác theo quy định của pháp luật đối với từng mặt hàng mà người khai hải quan phải nộp hoặc xuất trình cho cơ quan hải quan". Nghị định 154 và Thông tư 194 cũng đều đề cập đến "chứng từ khác" trong hồ sơ hải quan mà không quy định chi tiết là những chứng từ gì. Để xác định được "chứng từ khác" là gì, các doanh nghiệp XNK phải tra cứu rất nhiều Luật, Nghị định, thông tư..., liên quan đến nhiều Bộ, Ngành, nhiều khi còn chồng chéo nhau. Ví dụ: để nhập khẩu một mặt hàng có thể vừa phải xin giấy phép tự động theo quy định tại Thông tư số 24/2010/TT-BCT, vừa phải thực hiện kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy định tại Quyết định số 818/QĐ-BYT ngày 5/3/2007, vừa phải kiểm dịch động vật theo quy định tại Quyết định số 45/2005/QĐ-BNN ngày 25/7/2005. Mặc dù Nghị định 12/2006/NĐ-CP ngày 23/1/2006 chỉ quy định chế độ cấp phép hoặc quy định điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật đối với hàng hoá nhập khẩu nhưng để triển khai thực hiện Nghị định này, quy định tại các văn bản của các Bộ, Ngành cũng rất khác nhau. VD: phiếu công bố sản phẩm đã được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận (mỹ phẩm), phiếu kiểm nghiệm, đơn hàng (thuốc), giấy phép đăng ký lưu hành (văcxin), giấy phép khai thác (khoáng sản), giấy xác nhận đủ điều kiện nhập khẩu và thông báo nhận khẩu (phế liệu)... Có những mặt hàng mà Nghị định 12/2006/NĐ-CP không điều chỉnh mà điều chỉnh ở văn bản khác (VD: vàng, xăng dầu). Những quy định nêu trên thực sự phức tạp, các doanh nghiệp không thường xuyên XNK hoặc kinh doanh đa mặt hàng rất lúng túng để hiểu và nắm rõ những quy định này.

Tính hợp lý, tính thống nhất

Khoản 1 Điều 7 Nghị định 154/2005/NĐ-CP quy định khi làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu thì người khai hải quan phải nộp hợp đồng mua bán hàng hoá hoặc các giấy tờ có giá trị pháp lý tương đương hợp đồng.

Tuy nhiên, quy định này gây phiền hà cho doanh nghiệp, tốn nhiều giấy tờ và tiền bạc cho việc photo hợp đồng, trong khi Nhà nước đang chủ trương khuyến khích xuất khẩu, đa số hàng hoá xuất khẩu đều có thuế suất 0%. Do đó, yêu cầu nộp hợp đồng đối với hàng xuất khẩu là không cần thiết; Trừ một số trường hợp nhất định đã được quy định tại khoản 1 Điều 11 Thông tư 194/2010/TT-BTC, bao gồm hàng hóa xuất khẩu có thuế xuất khẩu, hàng xuất khẩu có yêu cầu thanh khoản và hàng hóa quản lý dựa trên yếu tố hợp đồng thì cần phải có hợp đồng trong hồ sơ hải quan để hỗ trợ cho việc làm thủ tục hải quan.

Ngoài ra, để thực hiện quản lý hải quan đối với một số loại hình ưu đãi thuế (VD: nhập sản xuất xuất khẩu, tạm nhập – tái xuất), Thông tư 194/2010/TT-BTC quy định chế độ thanh khoản. Tuy nhiên, hồ sơ thanh khoản còn rườm rà và phức tạp trong khi những chứng từ trong quá trình làm thủ tục hải quan, cơ quan hải quan đều lưu và nắm rõ.

Khuyến nghị:

Sửa khoản 1 Điều 22 Luật hải quan và các văn bản quy định chi tiết thi hành (Nghị định 154/2005/NĐ-CP, Thông tư 194/2010/TT-BTC) theo hướng quy định rõ các loại chứng từ phải nộp và xuất trình; đồng thời cần tiếp tục nghiên cứu, đơn giản chứng từ mà người khai hải quan phải nộp và xuất trình khi làm thủ tục hải quan cũng như khi thanh khoản.

Để thực hiện việc này, Chính phủ cần giải quyết các công việc sau đây:

- Cần sửa đổi, bổ sung Nghị định 12/2006/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành theo hướng chuẩn hóa và thống nhất các yêu cầu điều kiện đối với hàng hoá XNK trong văn bản cấp Nghị định, văn bản của các Bộ Ngành chỉ quy định danh mục hàng hoá và yêu cầu chỉ tiêu kỹ thuật cụ thể.

- Các mặt hàng có tính lưỡng dụng” thuộc chức năng quản lý của nhiều Bộ, ngành thì nên quy về một Bộ, ngành quản lý.

- Chính phủ cần sớm thiết lập hệ thống trao đổi thông tin điện tử giữa các cơ quan quản lý hàng hoá XNK (Chính phủ điện tử), Ngành hải quan cần tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hải quan để giảm giấy tờ và thời gian của doanh nghiệp.

- Cần sửa đổi Nghị định 154/2005/NĐ-CP theo hướng đối với hàng hoá xuất khẩu chỉ yêu cầu người khai hải quan nộp hợp đồng mua bán đối với trường hợp cần thiết cho việc xác định thuế xuất khẩu hoặc theo yêu cầu của chế độ quản lý xuất khẩu.

4

Quy định về thời hạn bổ sung, sửa chữa, nộp tờ khai tạm còn chưa thống nhất và hợp lý

 

khoản 2 Điều  22 Luật Hải quan, khoản 5 Điều 23 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và khoản 2 Điều 34 Luật Quản lý thuế; Điều 12 Thông tư 194/2010/TT-BTC

Tính thống nhất

 

Về thời hạn khai bổ sung: Theo khoản 2 Điều Điều 22 Luật Hải quan thì việc bổ sung, sửa chữa tờ khai đã đăng ký chỉ được thực hiện trước thời điểm kiểm tra thực tế hoặc miễn kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện. Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 68 Luật hải quan là quy định "trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày đăng ký tờ khai, nếu phát hiện có sự nhầm lẫn trong việc kê khai, tính thuế, nộp thuế thì phải báo cho cơ quan hải quan nơi làm thủ tục để điều chỉnh số thuế phải nộp". Theo khoản 5 Điều 23 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và khoản 2 Điều 34 Luật Quản lý thuế thì thời hạn khai bổ sung sai sót về thuế là 60 ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai. Như vậy, cùng một nội dung nhưng trong Luật Hải quan đã quy định khác nhau về thời hạn điều chỉnh thuế và các luật cũng quy định rất khác nhau.

Tính hợp lý, tính khả thi

 

- Trường hợp khai bổ sung, điều chỉnh tờ khai hải quan nhưng không làm ảnh hưởng đến số thuế phải nộp: chỉ cho phép thực hiện trước thời điểm kiểm tra thực tế hoặc miễn kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện (Điều 22 Luật Hải quan). Tuy nhiên, nếu điều chỉnh về thuế được điều chỉnh trong 60 ngày kể từ ngày đăng ký tờ khai (Luật Quản lý thuế, điểm b khoản 1 Điều 12 Thông tư 194). Như vậy, đối với trường hợp thứ nhất, nếu việc điều chỉnh không ảnh hướng đến chính sách XNK, nghĩa là không ảnh hưởng gì đến quản lý hải quan nên cần được ưu tiên hơn để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, nhất là hoạt động xuất khẩu thường có sự điều chỉnh sau khi xếp hàng (về số lượng, ký mã hiệu...) hoặc trong quá trình vận chuyển đến nước nhập khẩu (thay đổi người mua dẫn đến thay đổi nước nhập khẩu). Tuy nhiên, pháp luật lại quy định thời hạn ngắn hơn dẫn đến khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu trong việc xin cấp C/O và hoàn thiện bộ chứng từ theo yêu cầu của người mua.

- Quy định thời hạn khai bổ sung 60 ngày là chưa phù hợp. Thường các sai sót  được doanh nghiệp phát hiện trong quá trình lập các báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán, kiểm kê cuối năm. Khi đó đã quá thời hạn 60 ngày.

khoản 2 Điều 22 Luật Hải quan

Khoản 5 Điều 9 Nghị định 154/2005/NĐ-CP

 

Tính hợp lý, tính thống nhất

Theo Chuẩn mực 3.13 Công ước KYOTO: Nếu người khai hải quan không có đủ các thông tin theo yêu cầu đối với một Tờ khai hàng hóa và nếu có lý do chính đáng được Hải quan chấp nhận, thì được phép nộp tờ khai tạm hay tờ khai chưa hoàn chỉnh, với điều kiện các tờ khai đó phải có đủ các thông tin mà Hải quan cho là cần thiết và người khai hải quan phải tiến hành hoàn chỉnh tờ khai trong thời hạn quy định.

Khoản 2 Điều 22 Luật Hải quan cũng đã quy định nội dung tương tự.

Tuy nhiên, khoản 5 Điều 9 Nghị định 154/2005/NĐ-CP quy định cho phép nộp tờ lược khai hải quan để thông quan sau đó nộp tờ khai chính thức và chứng từ kèm theo nhưng chỉ áp dụng đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu phục vụ yêu cầu khẩn cấp.

Như vậy, quy định tại Nghị định 154/2005/NĐ-CP đã hạn chế các trường hợp được sử dụng tờ khai tạm để thông quan hàng hoá.

Khoản 6 Điều 12 Thông tư 222/2009/TT-BTC cho phép người khai hải quan khai tờ khai điện tử chưa hoàn chỉnh để làm thủ tục hải quan, không có hạn chế gì.

Khuyến nghị: Chúng tôi khuyến nghị

i)         Sửa đổi Luật Hải quan, Luật Quản lý thuế, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các văn bản hướng dẫn thi hành theo hướng: tách 2 trường hợp khai bổ sung về thuế và khai bổ sung không thuộc nội dung về thuế để quy định thời hạn khai bổ sung cho phù hợp.

Đối với trường hợp khai bổ sung mà không ảnh hưởng đến thuế và chính sách XNK: cho phép khai bổ sung mà không giới hạn thời hạn;

Đối với trường hợp khai bổ sung về thuế: quy định thời hạn cuối cùng khai bổ sung theo thời hạn quyết toán thuế (ngày 31/3 hàng năm cho các tờ khai của năm trước đó).

ii) Sửa đổi, bổ sung Nghị định 154/2005/NĐ-CP để mở rộng các trường hợp áp dụng tờ khai tạm để thông quan hàng hoá theo đúng tinh thần của Công ước Kyoto và Luật Hải quan.

5

Chưa có quy định về việc cho phép giải phóng hàng trước

Điều 23, 25 Luật Hải quan

Tính thống nhất, tính hợp lý

Theo Chương 2 phụ lục tổng quát Công ước kyoto: “giải phóng hàng” là hành động của cơ quan Hải quan cho phép hàng hóa đang trong quá trình làm thủ tục thông quan được đặt dưới quyền định đoạt của bên hữu quan. Chuẩn mực 3.41 phụ lục tổng quát Công ước Kyoto quy định: "Nếu cơ quan hải quan đảm bảo được rằng người khai hải quan hoàn thành tất cả các thủ tục liên quan đến việc thông quan thì phải giải phóng hàng ngay, với điều kiện người khai hải quan xuất trình được các chứng từ thương mại hay công vụ cung cấp các thông tin chủ yếu của lô hàng có liên quan và chấp nhận được đối với cơ quan hải quan, và nếu có yêu cầu, các biện pháp bảo đảm đã được thực hiện nhằm đảm bảo cho việc thu các loại thuế hải quan và thuế khác hiện hành".

Chuẩn mực này cho phép cơ quan hải quan giải phóng hàng với điều kiện có chứng từ thương mại chính thức và cơ quan hải quan thấy rằng mọi thủ tục, gồm cả việc khai báo sẽ được tiến hành ngay khi giải phóng hàng.

Đây là sự tạo thuận lợi cho việc nhận hàng, giảm chi phí lưu kho, bãi, bảo quản trong thời gian được thông quan, giảm tắc nghẽn tại cảng, cửa khẩu  biên giới.

Tuy nhiên, Luật Hải quan và các văn bản quy định chi tiết thi hành chưa phân định khái niệm "thông quan" với "giải phóng hàng" ("giải phóng hàng" không được coi là một trường hợp độc lập mà gắn việc "giải phóng hàng" với "thông quan" và coi là đó là trường hợp thông quan "có điều kiện"), từ đó chưa có cơ chế áp dụng cho việc "giải phóng hàng trước" như nêu trên.

Khuyến nghị:

Đề nghị sửa đổi Luật Hải quan và các văn bản quy định chi tiết thi hành (Nghị định 154/2005/NĐ-CP, Thông tư 194/2010/TT-BTC) theo hướng bổ sung quy định các trường hợp và điều kiện được áp dụng cơ chế giải phóng hàng trước như quy định tại Công ước Kyoto để tạo thuận lợi cho hoạt động XNK của doanh nghiệp

6

Quy định về việc xác định trị giá hải quan chưa hợp lý

Điều 71 Luật Hải quan; Điều 2 Nghị định 40/2007/NĐ-CP; Điều 2 Thông tư 205/2010/TT-BTC

Tính thống nhất, tính hợp lý

Điều 71 Luật Hải quan đề cập đến trị giá hải quan phục vụ cho việc tính thuế và thống kê. Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định 40/2007/NĐ-CP thì đối với hàng hoá nhập khẩu, trị giá tính thuế là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên. Như vậy, "cửa khẩu nhập đầu tiên" được xác định như thế nào là cơ sở quan trọng để xác định trị giá tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu.

Hiệp định trị giá GATT không quy định cụ thể việc xác định "vị trí" mà trị giá hàng hoá được tính đến điểm đó.

Theo khái niệm đề cập tại khoản 5 Điều 2 NĐ 40 thì “cửa khẩu nhập đầu tiên" là cảng đích ghi trên vận tải đơn.  Khái niệm này về mặt từ ngữ là không chính xác vì theo Luật biên giới quốc gia, "Cửa khẩu là nơi thực hiện việc xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, xuất khẩu, nhập khẩu và qua lại biên giới quốc gia" và nghĩa cụm từ "đầu tiên" trái với nghĩa "đích" là nơi cuối cùng.

Mặt khác, đối với trường hợp "cảng đích ghi trên vận đơn" là một địa điểm nằm trong nội địa (vận tải đa phương thức), nếu doanh nghiệp nước ngoài thuê doanh nghiệp Việt Nam vận chuyển thì đây là hoạt động nội địa, doanh nghiệp Việt Nam đã phải chịu thuế nội địa theo quy định.

Vì thế, đối với trường hợp áp dụng phương thức vận tải đa phương thức quốc tế trong vận chuyển hàng hoá nhập khẩu, rõ ràng việc cộng trị giá vận chuyển hàng hoá từ cửa khẩu đến địa điểm trả hàng ghi trên vận đơn vào trị giá tính thuế hàng nhập khẩu là không phù hợp. Trị giá vận chuyển này phải chịu 1 lần thuế thu nhập doanh nghiệp, 1 lần thuế nhập khẩu và 2 lần thuế GTGT.

Cách xác định trị giá này là bất hợp lý, dẫn đến thuế chồng thuế và không tạo điều kiện cho dịch vụ vận tải Việt Nam tham gia vào hoạt động vận chuyển quốc tế.

Khuyến nghị: Từ những phân tích nêu trên, chúng tôi đề nghị sớm sửa đổi quy định tại khoản 5 Điều 2 40/2007/NĐ-CP và khoản 13 Điều 2 Thông tư 205/2010/TT-BTC theo hướng quy định thống nhất với quy định của Luật Biên giới quốc gia và bảo đảm chính sách thuế phù hợp.

7

Chưa có cơ chế tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc lựa chọn địa điểm và thời giờ làm thủ tục hải quan

 

Điều 17 Luật Hải quan, Điều 4 Nghị định 154/2005/NĐ-CP, khoản 5 Điều 5 Thông tư 194/2010/TT-BTC

Tính thống nhất, tính hợp lý

 

Chuẩn mực 3.2 Công ước Kyoto sửa đổi quy định về việc nếu có lý do hợp lý và tuỳ theo cơ sở vật chật hiện có, hải quan “chấp nhận thực hiện các chức năng đối với thủ tục hải quan và thông lệ hải quan ngoài giờ hành chính và bên ngoài trụ sở hải quan“.

Điều 17 Luật Hải quan không quy định cơ chế làm thủ tục hải quan ngoài trụ sở hải quan, chỉ quy định việc kiểm tra thực tế hàng hoá XNK ngoài trụ sở hải quan trong trường hợp cần thiết.

Khoản 5 Điều 5 Thông tư 194 cũng chỉ quy định việc kiểm tra thực tế và thông quan hàng hoá ngoài giờ hành chính, chưa đề cập đến việc tiếp nhận, đăng ký tờ khai và kiểm tra hồ sơ ngoài giờ hành chính.

Quy định tại Công ước Kyoto thực sự là thuận lợi cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp xa trụ sở hải quan hoặc có nhu cầu làm thủ tục ngoài giờ do yêu cầu của sản xuất hoặc yêu cầu của vận tải. Doanh nghiệp cũng sẵn sàng chấp thuận một khoản "phí" cao hơn trường hợp làm thủ tục hải quan thông thường để hưởng sự thuận lợi này. Quy định này cũng làm giảm sự tắc nghẽn tại các trụ sở hải quan và tạo thuận lợi cho hoạt động kiểm tra hải quan.

Như vậy, quy định của Luật Hải quan chưa hoàn toàn phù hợp với quy định của Công ước Kyoto dẫn đến chưa thật sự tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.

Khuyến nghị: sửa đổi Điều 17 Luật Hải quan và các văn bản quy định chi tiết thi hành theo hướng:

- Quy định các trường hợp cơ quan hải quan chấp nhận hoặc từ chối thực hiện thủ tục hải quan ngoài trụ sở hải quan và ngoài giờ hành chính;

- Quy định mức phí cho việc thực hiện thủ tục hải quan ngoài trụ sở hải quan và ngoài giờ hành chính.

8

Cơ chế kiểm tra thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu chưa thống nhất và hợp lý; chưa có cơ chế phối hợp kiểm tra giữa các ngành

 

Điều 24; Khoản 2 Điều 29; Khoản 1, 2 Điều 30 Luật Hải quan; Khoản 2.c Điều 11 Nghị định 154/2005/NĐ-CP

Tính thống nhất, tính minh bạch, tính hợp lý

- Về việc miễn kiểm tra thực tế hàng hóa

Khoản 1, 2 Điều 30 Luật Hải quan quy định cụ thể các trường hợp được miễn kiểm tra thực tế hàng hoá gồm:

“- Hàng hoá xuất khẩu, trừ hàng hoá xuất khẩu sản xuất từ nguyên liệu nhập khẩu và hàng hoá xuất khẩu có điều kiện;

- Hàng hoá từ nước ngoài đưa vào khu thương mại tự do, cảng trung chuyển, kho ngoại quan; hàng hoá cảnh; hàng cứu trợ khẩn cấp; hàng hóa chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh; hàng hóa viện trợ nhân đạo và hàng hóa tạm nhập tái xuất có thời hạn;

- Hàng hoá nhập khẩu là máy móc, thiết bị tạo tài sản cố định thuộc diện miễn thuế của dự án đầu tư.

- Hàng hóa của chủ hàng chấp hành tốt pháp luật về hải quan”

Tuy nhiên, Khoản 2 Điều 29 Luật Hải quan quy định: “Thủ trưởng cơ quan hải quan nơi tiếp nhận và xử lý hồ sơ hải quan quyết định hình thức kiểm tra thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và thay đổi hình thức kiểm tra được quy định tại Điều 30 của Luật này”.

Khoản 2.c Điều 11 Nghị định 154 lại quy định kiểm tra xác suất để đánh giá việc chấp hành pháp luật hải quan của chủ hàng tối đa không quá 5% tổng số tờ khai hải quan.

Các quy định trên chưa bảo đảm tiêu chí:

Tính thống nhất: Khoản 1 Điều 30 chưa thống nhất với quy định nêu tại Khoản 2 Điều 29 Luật Hải quan, khoản 2c Điều 11 NĐ 154.

Tính minh bạch: doanh nghiệp tuân thủ pháp luật nhưng vẫn không xác định được hàng hóa của mình sẽ được áp dụng chế độ kiểm tra nào mà phụ thuộc vào quyết định của cơ quan hải quan. Việc cho phép cơ quan hải quan quyết định thay đổi hình thức kiểm tra mà không quy định các tiêu chí cho việc thay đổi này dẫn đến nguy cơ xảy ra nhũng nhiễu, tiêu cực. Từ đó, không tạo cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tuân thủ pháp luật.

Tính hợp lý: không tạo nên sự bình đẳng giữa các loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong thủ tục hải quan. Thực tế gian lận đều có thể xảy ra ở các loại hình XNK.

Tính minh bạch, tính hợp lý

- Về việc phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc kiểm tra hàng hóa:

Chuẩn mực 3.35 công ước Kyoto quy định: "Nếu hàng hóa phải được một cơ quan khác có thẩm quyền kiểm tra và cơ quan hải quan cũng dự định kiểm tra, Hải quan phải đảm bảo sao cho các hoạt động kiểm tra đó được phối hợp với nhau, và nếu có thể, được tiến hành vào cùng một thời gian".

Điều 24 Luật Hải quan cũng quy định nội dung tương tự và giao Chính phủ quy định quan hệ phối hợp của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại cửa khẩu.

Tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản nào của Chính phủ quy định vấn đề này nên quy định tại Điều 24 Luật Hải quan chưa được áp dụng trong thực tiễn. Các cơ quan kiểm tra ở cửa khẩu đều tiến hành kiểm tra một cách độc lập. Doanh nghiệp phải nhiều lần thực hiện các yêu cầu để phục vụ công tác kiểm tra của các cơ quan chức năng, mất thời gian và tốn kém chi phí.

Khuyến nghị: Chúng tôi khuyến nghị sửa Điều 29, Điều 30 Luật Hải quan và các văn bản hướng dẫn thi hành theo hướng:

- Có chế độ ưu tiên cho doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật hải quan. Trường hợp này chỉ kiểm tra khi có hải quan có cơ sở cho rằng có vi phạm.

- Quy định rõ các tiêu chí hay điều kiện để cơ quan hải quan quyết định hình thức kiểm tra thực tế hàng hóa cũng như quyết định thay đổi hình thức kiểm tra.

Ngoài ra, chúng tôi đề nghị Chính phủ sớm ban hành cơ chế phối hợp kiểm tra giữa các ngành đối với hàng hóa XNK.

9

Quy định địa điểm kiểm tra hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu cần hợp lý hơn

Điều 16, Khoản 5 Điều 30 Luật Hải quan

Tính hợp lý, tính khả thi

Theo điểm b khoản 1 Điều 16 thì khi làm thủ tục hải quan,người khai hải quan phải đưa hàng hoá, phương tiện vận tải đến địa điểm được quy định cho việc kiểm tra thực tế hàng hoá, phương tiện vận tải.

Khoản 5, Điều 30 Luật Hải quan quy định: “Việc kiểm tra thực tế hàng hoá do công chức hải quan kiểm tra trực tiếp hoặc kiểm tra bằng máy móc, thiết bị kỹ thuật, các biện pháp nghiệp vụ khác với sự có mặt của người khai hải quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ sau khi đăng ký hồ sơ hải quan và hàng hoá đã được đưa đến địa điểm kiểm tra

Quy định về địa điểm kiểm tra hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để thông quan phải đưa đến địa điểm kiểm tra tập trung tuy thuận tiện cho việc quản lý nhưng trên thực tế việc kiểm tra hàng hóa tại địa điểm tập trung lại làm mất thời gian và tăng chi phí cho doanh nghiệp trong việc xếp dỡ, vận chuyển và bảo quản hàng hóa.

Khuyến nghị:

Cần nghiên cứu sửa đổi quy định về địa điểm kiểm tra hàng hóa tập trung theo hướng giảm chi phí và thuận tiện hơn cho doanh nghiệp mà vẫn đảm bảo được công tác quản lý và có tính khả thi trên thực tế.

10

Chế độ ưu tiên áp dụng đối với doanh nghiệp tuân thủ pháp luật còn hạn chế

 

Điều 28, 30 Luật Hải quan, Khoản 1 Điều 6 Nghị định 154/2005/NĐ-CP, Khoản 4 Điều 3 Thông tư 194/2010/TT-BTC

Tính thống nhất, tính hợp lý

- Về tiêu chí đánh giá: Điều 28, Điều 30 Luật hải quan đề cập đến chế độ kiểm tra đối với doanh nghiệp tuân thủ pháp luật nhưng không quy định tiêu chí để xác định doanh nghiệp mà việc này được chi tiết tại Khoản 1 Điều 6 Nghị định 154 “chủ hàng chấp hành tốt pháp luật hải quan là chủ hàng có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu đáp ứng các điều kiện: không buôn lậu, không trốn thuế; không nợ thuế quá hạn; thực hiện chế độ báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật“.

Nội dung này được cụ thể hóa tại Khoản 4 Điều 3 Thông tư 194: Chủ hàng chấp hành tốt pháp luật về hải quan là người đáp ứng các điều kiện:

“a) Có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu tối thiểu ba trăm sáu mươi lăm ngày tính đến ngày đăng ký tờ khai hải quan cho lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu. Trong thời gian ba trăm sáu mươi lăm ngày trở về trước, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan cho lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu được cơ quan hải quan xác định là:

a.1) Không bị xử lý về hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới;

a.2) Không bị xử lý về hành vi trốn thuế, gian lận thuế;

a.3) Không quá hai lần bị xử lý về các hành vi vi phạm khác về hải quan (bao gồm cả hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn) với mức phạt tiền vượt thẩm quyền của Chi cục trưởng Chi cục Hải quan theo quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính;

b) Không còn nợ thuế quá hạn quá chín mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan;

c) Thực hiện nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ.

Các quy định này chưa bảo đảm:

Tính thống nhất: các tiêu chí tại Thông tư 194 không hoàn toàn thống nhất với quy định tại Nghị định 154. Cụ thể, về vi phạm  NĐ 154 quy định "không buôn lậu, không trốn thuế", tức là không có các hành vi "cố ý" vi phạm pháp luật hải quan; Thông tư 194 không phân biệt tính chất, mức độ hành vi vi phạm. Thông tư 194 giải thích tiêu chí "chấp hành chế độ báo cáo tài chính" thành "thực hiện nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ" là không phù hợp về tính chất của tiêu chí.

Tính hợp lý: Các tiêu chí xác định doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật hải quan còn đơn giản nên số lượng lớn đối tượng quản lý đều đáp ứng. Từ đó dẫn  đến ý nghĩa của việc "ưu tiên" giảm, chưa thực sự khuyến khích doanh nghiệp triệt để tuân thủ pháp luật. Chưa tính đến trường hợp đặc thù các doanh nghiệp có quy mô sản xuất lớn, có thương hiệu nổi tiếng thế giới nhưng mới hoạt động xuất nhập khẩu tại Việt Nam (chưa đủ 365 ngày), doanh nghiệp thường xuyên hoạt động XNK hoặc do yếu tố khách quan như ách tắc tại cảng dễ xảy ra sai sót, bị xử phạt vi phạm hành chính. Chưa có cơ chế công nhận lẫn nhau với các quốc gia khác về doanh nghiệp ưu tiên.

Tính thống nhất, tính hợp lý

- Về chế độ ưu tiên:

Điều 28, 30 Luật Hải quan mới chỉ đề cập đến chế độ ưu tiên trong kiểm tra hải quan và ân hạn thuế; Thông tư 63/2011/TT-BTC quy định thêm các chế độ ưu tiên như: không kiểm tra sau thông quan tại trụ sở doanh nghiệp, thông quan bằng hồ sơ đơn giản, nộp thuế và lệ phí theo tháng… Tuy nhiên, một số chế độ ưu tiên quy định tại chuẩn mực chuyển tiếp 3.32 Công ước Kyoto như: làm thủ tục hải quan tại trụ sở doanh nghiệp hoặc địa điểm khác; sử dụng sổ sách kinh doanh để tính thuế... chưa được áp dụng. Như vậy, pháp luật hiện hành chưa nội luật hoá đầy đủ các chuẩn mực quốc tế nên chưa tạo cơ sở để đơn giản hoá thủ tục, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật để từ đó khuyến khích doanh nghiệp tuân thủ pháp luật.

Khuyến nghị: Chúng tôi khuyến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 28, 30 Luật Hải quan và các văn bản quy định chi tiết thi hành (Nghị định 154/2005/NĐ-CP, Thông tư 194/2010/TT-BTC) theo hướng:

            - Chuẩn hóa các tiêu chí xác định doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật hải quan, trong đó có tính đến quy mô sản xuất, kinh doanh và số thuế đóng góp vào ngân sách nhà nước; bổ sung cơ chế công nhận lẫn nhau giữa các nước về doanh nghiệp ưu tiên.

            - Đa dạng các chế độ ưu tiên theo quy định tại công ước Kyoto để tạo thuận lợi, khuyến khích doanh nghiệp tuân thủ pháp luật.

11

Yêu cầu thực hiện một số thủ tục hành chính, báo cáo chưa hợp lý

Luật Hải quan, Nghị định 154/2005/NĐ-CP, Nghị định 12/2006/NĐ-CP, Nghị định 87/2010/NĐ-CP, Quyết định 100/2009/QĐ-TTg;  Thông tư 116/2008/TT-BTC, Thông tư 74/2010/TT-BTC, Thông tư 194/2010/TT-BTC

Tính thống nhất, tính minh bạch, tính hợp lý

Một số thủ tục hành chính, chế độ báo cáo hoặc một số chế độ kiểm tra không được quy định tại Luật Hải quan và các Nghị định khác có liên quan mà chỉ được quy định ở cấp độ Thông tư. Cụ thể:

-      Về việc giải quyết miễn thuế: Điều 12 Nghị định 87/2010/NĐ-CP quy định các trường hợp được miễn thuế, tại khoản 19 Điều này quy định tổ chức, cá nhân xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa tự xác định, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc kê khai chính xác, trung thực các mặt hàng thuộc diện được miễn thuế khi đăng ký Tờ khai hải quan. Như vậy, Nghị định chỉ quy định việc kê khai miễn thuế trên tờ khai hải quan khi làm thủ tục nhập khẩu. Tuy nhiên, để giải quyết việc miễn thuế, Bộ Tài chính quy định:

+ Thứ nhất, đó là phải đăng ký Danh mục hàng hoá nhập khẩu được miễn thuế trước khi đăng ký tờ khai. Các trường hợp tờ khai phát sinh trước khi đăng ký danh mục hàng hóa miễn thuế ,Bộ Tài chính giải quyết từng trường hợp cụ thể (điểm b.3 khoản 2 Điều 103 Thông tư 194). Hướng dẫn này tạo cơ chế "xin - cho" không hợp lý.

+ Thứ hai, đó là phải thực hiện việc báo cáo quyết toán việc sử dụng hàng hoá miễn thuế (Điều 104 Thông tư 194).

-                      Có thể hiểu thủ tục đăng ký danh mục hàng hoá nhập khẩu miễn thuế trước khi nhập khẩu nhằm giảm bớt gánh nặng kiểm tra hồ sơ cho khâu làm thủ tục nhập khẩu. Tuy nhiên, Bộ Tài chính lại đưa ra những tiêu chí  chỉ được đăng ký ở một đơn vị hải quan được chỉ định (có thể khác với đơn vị hải quan làm thủ tục nhập khẩu). Quy định này không tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Việc quy định chế độ báo cáo quyết toán đối với một số trường hợp chỉ mang tính thủ tục, không hiệu quả. Ví dụ: Việc yêu cầu "quyết toán" đối với tài sản cố định là không cần thiết và không hiệu quả vì:

+ Trách nhiệm của HQ không phải là theo dõi xem TSCĐ đã đưa vào sử dụng hay chưa mà quản lý việc hàng hoá phải được sử dụng đúng mục đích;

+ Theo điểm b.1 khoản 2 Điều 104 Thông tư 194 thì việc quyết toán chỉ thực hiện 1 lần. Doanh nghiệp có thể bán TSCĐ sau thời điểm quyết toán. Như vậy, việc quyết toán không đáp ứng mục tiêu quản lý đã đề ra.

-                      Về việc giải quyết miễn thuế đối với hàng gia công cho thương nhân nước ngoài: Theo quy định tại Điều 29, 30 Nghị định 12/2006/NĐ-CP thì thương nhân được nhận gia công hàng hóa cho thương nhân nước ngoài, trừ hàng hóa thuộc Danh mục cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, hàng hóa thuộc Danh mục cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu. Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép, thương nhân chỉ được ký hợp đồng sau khi được Bộ Thương mại cấp phép. Theo quy định tại điều 12 Nghị định 87/2010/NĐ-CP thì hàng hoá gia công cho nước ngoài được miễn thuế XNK. Theo các quy định này thì doanh nghiệp chỉ cần kê khai trên tờ khai và xuất trình hợp đồng gia công là được giải quyết miễn thuế. Doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện việc gia công và xuất khẩu sản phẩm theo quy định. Tuy nhiên, Thông tư 116 và 74 (nay là Thông tư 117/2011/TT-BTC) của Bộ Tài chính quy định để được chấp nhận làm thủ tục theo loại hình gia công, doanh nghiệp phải giải trình, chứng minh cơ sở sản xuất, dây chuyền trang thiết bị, công suất thiết kế... và ngoài việc kiểm tra hồ sơ hải quan theo quy định, cơ quan hải quan sẽ kiểm tra cơ sở sản xuất. Việc kiểm tra cơ sở sản xuất của doanh nghiệp hoàn toàn không được đề cập tại văn bản luật cũng như văn bản ở cấp Nghị định. Mặt khác, việc xem xét, xác định doanh nghiệp có đủ điều kiện để hoạt động sản xuất kinh doanh hay không không thuộc chức năng của cơ quan hải quan mà thuộc chức năng của cơ quan quản lý kinh doanh. Bộ Tài chính cũng không đưa ra các tiêu chí để xác định điều kiện cở sản xuất như thế nào mới được phép thực hiện hợp đồng gia công. Do đó, thủ tục này dễ tạo cơ chế tuỳ tiện không hợp lý.

Về chế độ báo cáo đối với doanh nghiệp trong khu phi thuế quan: Theo quy định tại Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và Quyết định 100/2009/QĐ-TTg thì hàng hoá từ nước ngoài đưa vào khu phi thuế quan và từ khu phi thuế quan ra nước ngoài thuộc đối tượng không chịu thuế; cơ quan hải quan làm thủ tục hải quan và giám sát, kiểm tra hàng hoá ra vào khu. Tuy nhiên, tại Điều 44 Thông tư 194 ngoài việc quy định thủ tục hải quan và chế độ kiểm tra, giám sát như nêu trên, Bộ Tài chính còn quy định doanh nghiệp trong khu phi thuế quan phải thực hiện chế độ báo cáo thanh khoản. Việc quy định chế độ báo cáo này làm cho cơ chế quản lý hàng hoá ra vào khu phi thuế quan không khác gì hàng gia công (miễn thuế) hay hàng nhập sản xuất xuất khẩu (hoàn thuế); trong khi các loại hình này không cần quản lý chặt chẽ như khu phi thuế quan (có hàng rào cứng, phải làm thủ  tục khi ra vào, có hải quan giám sát). Việc cùng áp dụng các cơ chế quản lý nêu trên đối với khu phi thuế quan là không hợp lý, gây mất thời gian và chi phí cho cả hải quan và doanh nghiệp.

Như vậy, các quy định nêu trên không bảo đảm: tính thống nhất, tính minh bạch, tính hợp lý.

Khuyến nghị: Từ những phân tích nêu trên, chúng tôi kiến nghị:

i)       Rà soát lại quy định về quyết toán đối với hàng miễn thuế, chỉ quy định quyết toán đối với trường hợp cần thiết và đưa nội dung này vào văn bản cấp Nghị định cho phù hợp với quy định tại khoản 6 Điều 31 Luật Quản lý thuế.

ii)     Cần quy định cụ thể các tiêu chí xác định doanh nghiệp đủ điều kiện gia công và việc kiểm tra cơ sở sản xuất đối với doanh nghiệp gia công cho nước ngoài cần được quy định ở cấp Nghị định để đảm bảo cơ sở pháp lý thực hiện.

iii)                Sửa đổi quy định về đăng ký doanh mục miễn thuế theo hướng cho phép doanh nghiệp đăng ký ở bất cứ đơn vị hải quan nào.

iv)                  Đề nghị Bộ Tài chính nghiên cứu để quy định thủ tục hải quan và chế độ quản lý hợp lý đối với hàng hoá ra, vào khu phi thuế quan.

v)                   Bộ Tài chính cần rà soát lại tất cả các thủ tục hành chính, đối với những thủ tục chưa được quy định ở cấp Nghị định thì cần xem xét bãi bỏ hoặc kiến nghị Chính phủ quy định cụ thể (nếu cần)

12

Chế độ thông quan đối với hàng hoá phải kiểm dịch, kiểm tra nhà nước về chất lượng và kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm chưa rõ ràng, minh bạch

 

Điều 22, 25 Luật Hải quan; Điều 12 Nghị định 154; Điều 25 Thông tư 194/2010/TT-BTC; Luật chất lượng, sản phẩm hàng hóa; Luật Vệ sinh an toàn thực phẩm; Pháp lệnh thú y; Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực vật;  Nghị định 12/2006

Tính thống nhất

Tính minh bạch

 

- Điều 22, 25 Luật Hải quan chưa quy định về yêu cầu hồ sơ và việc thông quan đối với trường hợp hàng hoá phải kiểm dịch, kiểm tra nhà nước về chất lượng và kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm;

-  Nghị định 154/2005/NĐ-CP chỉ mới đề cập đến việc thông quan đối với hàng hóa kiểm tra nhà nước về chất lượng nhưng nội dung chưa thống nhất với quy định tại Luật chất lượng, sản phẩm hàng hóa và Điều 8 Nghị định 12/2006/NĐ-CP. Cụ thể:

+ Theo điểm c khoản 1 Điều 12 NĐ 154 thì hàng hóa nhập khẩu thuộc diện kiểm tra chất lượng chỉ cần có giấy đăng ký kiểm tra là được thông quan. Tuy nhiên, theo Điều 35, 36 Luật chất lượng, sản phẩm hàng hóa thì hàng hóa chỉ được thông quan sau khi đã hoàn thành việc kiểm tra chất lượng.

- Điều 25 Thông tư 194/2010/TT-BTC chỉ hướng dẫn việc thông quan đối với hàng hoá thuộc diện kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, đối với các loại khác thì quy định "thực hiện theo hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính"/ "thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch của Bộ Tài chính và Bộ Khoa học Công nghệ" nhưng những quy định này chưa được ban hành.

Các quy định pháp luật thiếu thống nhất, không đầy đủ dẫn đến không rõ ràng trong việc xác định:

- Cơ quan hải quan có trách nhiệm trong việc kiểm soát hàng hóa kiểm dịch, kiểm tra chất lượng hay không? hay thuộc chức năng của các cơ quan khác? (vì ở cửa khẩu cũng có các cơ quan này);

- Trường hợp hàng hóa mới đăng ký kiểm dịch, kiểm tra, đã làm xong thủ tục hải quan thì có được thông quan hay không?

Doanh nghiệp cần được biết rõ chế độ quản lý hàng hóa của mình trong giai đoạn từ khi đến cửa khẩu đến khi đưa vào lưu thông và cơ quan chịu trách nhiệm giao dịch để thực hiện các chế độ quản lý đó cũng như xử lý khi có vi phạm xảy ra. Nếu quy định không rõ thì cơ quan nào cũng có thể yêu cầu kiểm tra, xử lý hoặc yêu cầu doanh nghiệp xuất trình chứng từ, giải trình...

Khuyến nghị: Chính phủ cần phân định rõ trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát hàng hóa ở cửa khẩu, trên cơ sở đó kiến nghị Quốc hội sửa đổi Điều 22, Điều 25 Luật hải quan và các văn bản quy định chi tiết thi hành theo hướng:

- Quy định rõ về hồ sơ hải quan đối với hàng hóa phải kiểm dịch, kiểm tra chất lượng;

- Quy định rõ chế độ thông quan và trách nhiệm kiểm soát đối với trường hợp hàng hoá phải kiểm dịch, kiểm tra nhà nước về chất lượng và kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm.

13

Cơ chế kiểm tra sau thông quan chưa minh bạch

 

Điều 32 Luật hải quan, Điều 77, 78 Luật Quản lý thuế

Tính thống nhất, tính minh bạch, tính hợp lý

- Theo quy định tại Điều 32 Luật Hải quan thì đối với trường hợp hàng hóa đã được thông quan chỉ chịu sự kiểm tra sau thông quan tại doanh nghiệp. Khi kiểm tra có quyết định kiểm tra của người có thẩm quyền. Thời hạn kiểm tra là 5 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai.

- Điểm d khoản 3 Điều 77 Luật Quản lý thuế lại quy định thêm việc kiểm tra sau khi hàng hóa đã thông quan (kiểm tra sau thông quan) tại trụ sở cơ quan hải quan. Mặt khác, việc kiểm tra này không cần có thủ tục gì.

- Điều 77, 78 Luật Quản lý thuế không giới hạn thời hạn kiểm tra sau thông quan.

 Như vậy, các quy định nêu trên chưa đảm bảo các tiêu chí

Tính thống nhất: quy định thiếu thống nhất

Tính minh bạch: Hàng hóa XNK qua nhiều khâu kiểm tra chồng chéo mà không có cơ chế xác định trách nhiệm của khâu kiểm tra trước. Nếu sảy ra sai sót doanh nghiệp vẫn phải hoàn toàn chịu trách nhiệm. Việc kiểm tra sau thông quan tại trụ sở cơ quan hải quan không theo thủ tục, không giới hạn thời gian có thể dẫn đến tình trạng hải quan nhũng nhiễu, làm khó cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể bị cơ quan hải quan mời gọi, yêu cầu giải trình… nhiều lần, bất cứ lúc nào.

Tính hợp lý: Quy định thời hạn kiểm tra sau thông quan tại Luật Hải quan là 5 năm đã quá dài, Luật Quản lý thuế lại không giới hạn thời hạn. Luật Hải quan và Luật Quản lý thuế đều không quy định cụ thể trách nhiệm của công chức hải quan ở khâu thông quan đối với các sai sót phát hiện ở khâu sau thông quan. Quy định này dễ dẫn đến hậu quả như sau:

-   - Tạo ra tâm lý tuỳ tiện khi kiểm tra cho thông quan hàng hoá vì được kiểm tra sau thông quan tới 05 năm tiếp theo.

-   - Khi kiểm tra sau thông quan nếu phát hiện sai sót (bao gồm cả các sai sót do vô ý) dẫn đến phải truy thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế GTGT đối với hàng nhập khẩu với số tiền lớn có thể làm cho doanh nghiệp phá sản. Bởi lẽ, sau khi nhập khẩu, các doanh nghiệp đã lên phương án kinh doanh và bán hết hàng.

Khuyến nghị: Cần thống nhất chế độ kiểm tra sau thông quan tại Luật Hải quan và Luật Quản lý thuế theo hướng:

- Bỏ cơ chế kiểm tra sau thông quan tại trụ sở cơ quan hải quan hoặc nếu cần thì xây dựng cơ chế kiểm tra quyết toán/ kiểm toán theo năm tài chính;

- Quy định thời hạn kiểm tra sau thông quan tối đa là 3 năm;

- Quy định trách nhiệm của cán bộ, công chức có liên quan đối với trường hợp kiểm tra sau thông quan phát hiện sai sót ở lô hàng đã được hải quan kiểm tra trong thông quan.

14

Chế độ ưu đãi đối với hàng hoá trong kho bảo thuế chưa thống nhất

Luật Hải quan, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Nghị định 154/2005/NĐ-CP, Nghị định 87/2010/NĐ-CP, Quyết định 100/2009/QĐ-TTg; 

Tính thống nhất, tính hợp lý

Điều 46 Luật Hải quan quy định chủ hàng được mở kho bảo thuế để lưu giữ nguyên liệu phục vụ sản xuất. Theo quy định tại Điều 2 Nghị định 87/2010/NĐ-CP và quyết định 100/2009/QĐ-TTg thì hàng hoá từ nước ngoài đưa vào kho bảo thuế và ngược lại thuộc đối tượng không chịu thuế.

Tuy nhiên, khoản 2 Điều 29 Nghị định 154/2005/NĐ-CP quy định chế độ thanh khoản kho bảo thuế vào ngày 31/12 hàng năm. Theo quy định này thì nguyên liệu sản xuất trong kho bảo thuế chỉ được "không chịu thuế" trong thời hạn 1 năm. Quá thời hạn này mà nguyên liệu chưa được đưa vào sản xuất và xuất khẩu hoặc xuất khẩu ít hơn so với tỷ lệ bảo thuế  thì phải nộp thuế. Quy định này không thống nhất với các quy định về chế độ thuế đối với kho bảo thuế như đã dẫn trên.

Khuyến nghị: Chúng tôi đề nghị sửa đổi quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị định 154/2005/NĐ-CP theo hướng không giới hạn thời hạn "không chịu thuế" đối với nguyên liệu sản xuất để tạo điều kiện cho doanh nghiệp sử dụng các kho này một cách hiệu quả nhất

15

Quy định chế độ cấp phép đối với hàng quá cảnh có lưu kho ngoài khu vực cửa khẩu hoặc đi qua lãnh thổ đất liền không thống nhất

 

Khoản 2 Điều 40 Luật Hải quan, Điều 19 Nghị định 154/2005/NĐ-CP, Nghị định 12/2005/NĐ-CP

Tính thống nhất

 

Khoản 2 Điều 40 Luật Hải quan có quy định về hàng quá cảnh có lưu kho ngoài khu vực cửa khẩu hoặc đi qua lãnh thổ đất liền nếu quy định của pháp luật Việt Nam phải có giấy phép thì phải xuất trình giấy phép của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Điều 19 Nghị định 154/2005/NĐ-CP quy định hàng hoá quá cảnh có lưu kho ngoài cửa khẩu hoặc đi qua lãnh thổ đất liền phải xin phép giấy phép của Bộ Thương mại. Tuy nhiên, Nghị định 12/2005/NĐ-CP không quy định cấp phép đối với trường hợp này mà quy định chế độ cấp phép theo loại hàng hoá quá cảnh.

Các quy định nêu trên thiếu thống nhất với nhau nên dễ xảy ra tranh chấp giữa hải quan và doanh nghiệp trong quá trình xử lý hồ sơ.

Khuyến nghị: Bãi bỏ khoản 2 Điều 40 Luật Hải quan

16

Hạn chế việc áp dụng chế độ chuyển cửa khẩu đối với hàng hoá

 

Điều 41 Luật Hải quan, khoản 3 Điều 18 Nghị định 154/2005/NĐ-CP

Tính thống nhất, tính hợp lý

Điều 41 Luật Hải quan không hạn chế loại hàng hóa được chuyển cửa khẩu. Tuy nhiên, khoản 3 Điều 18 NĐ 154 giới hạn loại hình, chủng loại hàng hóa được chuyển cửa khẩu. 

Hiện nay hệ thống cơ quan hải quan đã được thiết lập tại nhiều tỉnh, thành phố, bao gồm trụ sở hải quan cửa khẩu và trụ sở hải quan ngoài cửa khẩu. Chức năng của các đơn vị này là tương đương nhau. Như vậy, cơ quan hải quan có đủ điều kiện về cơ cấu tổ chức cũng như cơ sở vật chất để thực hiện thủ tục chuyển cửa khẩu hàng hóa.

Việc hạn chế hàng hóa chuyển cửa khẩu dẫn đến đối với loại hàng hóa không được chuyển cửa khẩu, doanh nghiệp vẫn phải ra tận cửa khẩu để làm thủ tục hải quan. Đối với doanh nghiệp ở xa phải mất 1-2 ngày. Nếu được chuyển cửa khẩu, doanh nghiệp không cần cử người ra cửa khẩu mà có thể thuê người vận tải nhận và chở hàng về doanh nghiệp.

Ngoài ra, Nghị định 154 cũng không quy định thủ tục chuyển cửa khẩu đối với trường hợp xuất nhập khẩu của doanh nghiệp chế xuất, doanh nghiệp trong khu phi thuế quan dẫn đến nhiều bất cập, khó khăn cho cả doanh nghiệp và cơ quan quản lý hải quan trong việc áp dụng, tuân thủ quy định pháp luật. 

Do đó, quy định nêu trên chưa bảo đảm tiêu chí:

Tính thống nhất: Quy định tại Nghị định hẹp hơn Luật;

Tính hợp lý: không tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, tăng chi phí cho doanh nghiệp, gây áp lực công việc không đều cho hải quan các cửa khẩu.

Khuyến nghị:

Chúng tôi khuyến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 18 Nghị định 154/2005/NĐ-CP và Thông tư 194/2010/TT-BTC theo hướng:

- Không giới hạn việc chuyển cửa khẩu hàng hóa. Cho phép tiếp nhận và xử lý hồ sơ ở bất cứ đơn vị hải quan nào;

- Quy định thủ tục chuyển cửa khẩu hàng hóa với cơ chế kiểm tra thực tế hàng hóa linh hoạt (kiểm tra tại cửa khẩu hoặc tại trụ sở hải quan ngoài cửa khẩu hoặc tại địa điểm khác theo đề nghị của doanh nghiệp).

17

Quy định về chuyển khẩu, chuyển cảng, trung chuyển chưa minh bạch

Điều 41, 119  Luật Hải quan

Khoản 3 Điều 18 Bộ Luật Hàng hải

Điều 1, 2, 3, 17, 20 Nghị định 154/2005/NĐ-CP, Nghị định 87/2009/NĐ-CP, Thông tư

Tính minh bạch,

tính thống nhất

-                      Về chuyển khẩu: Chuyển khẩu là một hình thức kinh doanh được đề cập tại Điều 30 Luật Thương mại. Tuy nhiên, Luật Hải quan chưa có quy định về khái niệm chuyển khẩu cũng như thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hoá kinh doanh chuyển khẩu. Việc này chỉ được quy định tại Điều 38 Thông tư 194/2010/TT-BTC.

-                      Về chuyển cảng: Luật Hải quan cũng không có quy định về khái niệm chuyển cảng cũng như chế độ quản lý hải quan đối với loại hình chuyển cảng. Việc này chỉ được đề cập ở Điều 17 Nghị định 154/2005/NĐ-CP.

-                      Về thủ tục chuyển cảng: Khi làm thủ tục chuyển cảng theo quy định tại khoản 3 Điều 17 Nghị định 154/2005/NĐ-CP, người vận tải chỉ có trách nhiệm làm thủ tục, luân chuyển hồ sơ và bảo đảm nguyên trạng hàng hoá (không yêu cầu phải có Giấy phép kinh doanh vận tải).

Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 2 Nghị định 87/2009/NĐ-CP và Thông tư 45/2011/TT-BTC thì trong trường hợp hàng hoá vận chuyển từ nước ngoài đến ICD hoặc từ  ICD ra nước ngoài trên cơ sở một hợp đồng vận tải là vận tải đa phương thức quốc tế, doanh nghiệp vận tải phải có đủ điều kiện mới được phép kinh doanh vận tải; trong hồ sơ hải quan phải có “giấy phép kinh doanh vận tải đa phương thức quốc tế” và “chứng từ vận tải đa phương thức quốc tế” theo mẫu đăng ký với Bộ Giao thông vận tải. Các văn bản này lại không quy định rõ trách nhiệm nộp những chứng từ nêu trên là doanh nghiệp kinh doanh vận tải đa phương thức hay doanh nghiệp vận tải nội địa.

Như vậy, những quy định nêu trên là thiếu thống nhất và minh bạch nên cơ quan hải quan và doanh nghiệp đều lúng túng trong việc thực hiện.

- Luật Hải quan chưa có quy định về chế độ quản lý hải quan đối với hàng hoá trung chuyển mà nội dung này chỉ được quy định tại Điều 20 Nghị định 154/2005/NĐ-CP, Điều 43 Thông tư 194/2010/TT-BTC. Bộ Luật hàng hải và các văn bản quy định chi tiết thi hành cũng không quy định điều kiện thành lập cà cơ chế hoạt động của các khu trung chuyển.

 

Khuyến nghị:

Để đảm bảo cơ sở pháp lý cũng như đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật, cần bổ sung vào Luật Hải quan để có quy định bao quát về thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra giám sát hải quan đối với hàng hoá chuyển cảng, trung chuyển. Trên cơ sở đó, sửa Nghị định 154/2005/NĐ-CP và Nghị định 87/2009/NĐ-CP, Thông tư 45/2011/TT-BTC cho phù hợp với quy định của Luật.

Đề nghị Chính phủ chỉ đạo các bộ, Ngành liên quan như Bộ Công thương, Bộ Giao thông vận tải nghiên cứu hoàn thiện cơ chế pháp lý về hoạt động kinh doanh cũng như cơ sở hạ tầng (khu trung chuyển, cảng trung chuyển) để phát triển các dịch vụ này.

 

18

Chưa có quy định về chế độ lưu kho tạm thời

Điều 47 Luật Hải quan và Điều 22 đến Điều 26 Nghị định 154/2005/NĐ-CP, Thông tư 194/2010/TT-BTC

Tính hợp lý

Chương 2 Phụ lục chuyên đề A Phụ lục tổng quát công ước Kyoto quy định việc lưu kho tạm và chế độ quản lý hải quan đối hàng hoá lưu kho tạm.

"lưu kho tạm thời hàng hoá" là việc lưu kho hàng hoá dưới sự kiểm tra của cơ quan hải quan trong một khu vực nhất định hoặc một vị trí nhất định cho đến khi tiến hành nộp tờ khai hàng hoá.

Luật Hải quan mới đề cập hình thức này dưới dạng "kho ngoại quan", Điều Thông tư 94/2010/TT-BTC bổ sung thêm địa điểm thu gom hàng lẻ (CFS). Tuy nhiên, các loại kho này chỉ là những hình thức đặc biệt của kho tạm.

Vì chưa có hệ thống kho tạm và chế độ quản lý hàng hoá tại các kho này nên đối với hàng hoá nhập khẩu tại biên giới đường bộ hoặc hàng rời tại cảng biển, khi chưa được thông quan thì chủ hàng hoặc đại lý vận tải không biết gửi ở đâu. Thường chủ hàng chấp nhận để tại cảng hoặc khu vực cửa khẩu mà không có ai bảo quản, chấp nhận rủi ro về mất mát hay tổn thất do hư hỏng.

Vì vậy, việc quy định chế độ lưu kho tạm là yêu cầu cấp thiết để tạo thuận lợi cho hoạt động XNK, nhất là hoạt động XNK qua biên giới.

Khuyến nghị:

Bổ sung quy định về lưu kho tạm thời với hàng hoá chờ thông quan: điều kiện thành lập, chế độ quản lý hải quan (thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan) đối với kho tạm thời và hàng hoá ra, vào kho tạm thời.

19

Quy định hạn chế loại hàng hoá được gửi kho ngoại quan

khoản 1 Điều 25 Nghị định 154/2005/NĐ-CP, khoản 1a, điểm b.1 khoản 4 Điều 55 Thông tư 194/2010/TT-BTC

Tính thống nhất, tính hợp lý

Theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Nghị định 154/2005/NĐ-CP thì hàng hoá từ nước ngoài muốn lưu kho tại Việt Nam để chờ làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam thì được lưu giữ trong kho ngoại quan, trừ: hàng giả, hàng gây nguy hiểm cho người hoặc ô nhiễm môi trường, hàng cấm NK.

Tuy nhiên, theo quy định tại điểm b.2 khoản 4 Điều 55 Thông tư 194/2010/TT-BTC thì hàng hoá thuộc danh mục hàng tiêu dùng không được đưa từ kho ngoại quan vào nội địa. Do đó, thực chất khoản 1a Điều 55 Thông tư 194 không hạn chế hàng hoá là hàng tiêu dùng từ nước ngoài gửi kho ngoại quan nhưng việc hạn chế này lại thể hiện ở điểm b.2 khoản 4 Điều 55 Thông tư, theo đó loại hàng này không thể gửi kho ngoại quan để chờ làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam.

Quy định nêu trên tại Thông tư là thiếu thống nhất với quy định tại Nghị định và do đó không phù hợp với quy định của Luật Hải quan. Khoản 3 Điều 46 Luật Hải quan giao Chính phủ quy định cụ thể hoạt động của kho ngoại quan. Đồng thời quy định nêu trên cũng gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh kho ngoại quan, ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ hàng.

Khuyến nghị:

Chúng tôi khuyến nghị Bộ Tài chính sớm bãi bỏ quy định tại điểm b.2 khoản 4 Điều 55 Thông tư 194/2010/TT-BTC để bảo đảm tạo thuận lợi cho hoạt động và sử dụng hoạt động kinh doanh kho ngoại quan đạt hiệu quả.

20

Chưa có cơ sở pháp lý đầy đủ để thực hiện thủ tục hải quan điện tử

 

Khoản 2 Điều 8 Luật hải quan; Quyết định 103/2009/QĐ-TTg, Quyết định 149/2005/QĐ-TTg; Thông tư 222/2009/TT-BTC

Tính minh bạch, tính hợp lý

Điều 8 Luật hải quan đề cập đến thủ tục hải quan điện tử nhưng mới đề cập một cách chung chung, chưa quy định cụ thể. Khoản 2 Điều 8 Luật hải quan giao: Chính phủ quy định cụ thể về hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật..., trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan hải quan các cấp trong việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử. Tuy nhiên ở cấp độ văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành thì Nghị định 154 không điều chỉnh thủ tục hải quan điện tử (Khoản 1 Điều 1 Nghị định 154 quy định thủ tục hải quan điện tử thực hiện theo quy định riêng). Hiện nay, thủ tục hải quan điện tử mới cho phép thí điểm thực hiện theo quy định tại Quyết định 103/2009/QĐ-TTg, Quyết định 149/2005/QĐ-TTg, hướng dẫn của Bộ Tài chính tại Thông tư 222/2009/TT-BTC và các quy định của Luật Giao dịch điện tử tại một số đơn vị hải quan.

Các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên chưa tạo ra một cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc triển khai thủ tục hải quan điện tử một cách toàn diện. Ngoài tờ khai hải quan được nộp dưới dạng điện tử, việc nộp các chứng từ khác trong bộ hồ sơ hải quan chưa được nộp dưới dạng điện tử vì chưa có Chính phủ điện tử (ví dụ: chưa có quy định về giấy chứng nhận xuất xứ điện tử, giấy phép điện tử, thông báo kết quả kiểm tra chất lượng qua điện tử....). Chưa có cơ chế liên thông giữa các cơ quan nên doanh nghiệp làm thủ tục hải quan điện tử vẫn phải nộp bộ hồ sơ giấy. Đồng thời, một loại chứng từ có thể phải nộp cho nhiều cơ quan. Ví dụ khi xin cấp giấy phép tự động phải nộp hợp đồng, vận đơn, hóa đơn thương mại; khi làm thủ tục hải quan cũng phải nộp các chứng từ này. Do đó, số lượng hồ sơ chứng từ ở mỗi khâu thủ tục rất lớn và phức tạp, gây tốn kém.

Thủ tục hải quan điện tử chủ yếu mới thực hiện ở khâu khai hải quan. Các khâu khác như thanh khoản, quyết toán, hoàn thuế doanh nghiệp vẫn phải nộp chứng từ giấy.

Khuyến nghị:

- Chính phủ sớm xây dựng và hoàn thiện Chính phủ điện tử để tạo cơ chế liên thông trong việc tiếp nhận và xử lý hồ sơ giữa các cơ quan chức năng giải quyết thủ tục XNK.

- Sớm hoàn thiện cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử một cách toàn diện, bao quát tất cả các khâu thủ tục và quản lý hải quan.

 21

 Một số quy định về áp dụng kiểm soát quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới thiếu thống nhất

 

Khoản 3 Điều 57 Luật Hải quan; Điều 201, 214 Luật Sở hữu trí tuệ; Khoản 3 Điều 55 Nghị định 154/2005/NĐ-CP;  Thông tư 44/2011/TT-BTC

Tính thống nhất

 

- Về đối tượng được áp dụng các biện pháp kiểm soát quyền sở hữu trí tuệ: Khoản 3 Điều 57 Luật Hải quan loại trừ hàng quá cảnh. Tuy nhiên Luật Sở hứu trí tuệ không giới hạn loại hình hàng hóa trong việc áp dụng các biện pháp kiểm soát quyền sở hữu trí tuệ. Theo quy định tại Điều 214 của Luật Sở hữu trí tuệ, đối với hàng quá cảnh, cơ quan có thẩm quyền xử lý xâm phạm có thể xử phạt và áp dụng biện pháp buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam sau khi đã loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa.

- Về tổ chức giám định về sở hữu trí tuệ: Khoản 3 Điều 55 Nghị định 154 quy định cơ quan giám định là Cục Sở hữu trí tuệ, Cục Bản quyền tác giả văn học nghệ thuật, các cơ quan quản lý sở hữu trí tuệ địa phương. Khoản 2 Điều 201 Luật Sở hữu trí tuệ (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định tổ chức được hoạt động giám định bao gồm: “Doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp, tổ chức hành nghề luật sư,  trừ tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam” đáp ứng một số điều kiện quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ.

Khuyến nghị:

Kiến nghị sửa đổi Luật Hải quan và Nghị định 154 cho phù hợp với Luật Sở hữu trí tuệ để bảo đảm quyền của chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ và tạo thuận lợi cho hoạt động giám định về sở hữu trí tuệ.

22

Quy định về hợp tác với doanh nghiệp

Điều 11, 23 Luật Hải quan, Điểm c khoản 6 Điều 5 Thông tư 194/2010/TT-BTC

Tính thống nhất, tính hợp lý

Về quan hệ hợp tác với người khai hải quan, người nộp thuế, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan chỉ được quy định ở cấp độ Thông tư nhằm nội luật hoá chuẩn mục 6.8 Phụ lục Tổng quát Công ước Kyoto. Cụ thể, điểm c khoản 6 Điều 5 Thông tư 194/2010/TT-BTC quy định “Việc phối hợp, trao đổi cung cấp thông tin giữa cơ quan hải quan với người khai hải quan, người nộp thuế có thể thực hiện thông qua biên bản ghi nhớ để bảo đảm tuân thủ nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên tham gia ký kết”. Tuy nhiên, thủ tục trình tự cũng như nội dung phối hợp chưa được quy định cụ thể ở đâu. Do đó, quy định nêu trên tại Nghị định 194/2010/TT-BTC chưa được thực hiện phổ biến nên chưa có tác động tích cực cho doanh nghiệp.

Để tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và yêu cầu quản lý hải quan hiệu quả, đảm bảo cơ sở pháp lý triển khai thực hiện, bổ sung vào Luật Hải quan quy định rõ cơ chế, nội dung quan hệ phối hợp giữa của Hải quan - doanh nghiệp trong việc thúc đẩy thương mại và bảo đảm yêu cầu quản lý.

Khuyến nghị:

Cần nghiên cứu bổ sung vào Luật Hải quan và các văn bản quy định chi tiết thi hành (Nghị định 154, Thông tư 194) các quy định về cơ chế, nội dung và cách thực phối hợp giữa hải quan và doanh nghiệp thông quan biên bản ghi nhớ để hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện thủ tục hải quan và cũng để phù hợp với các chuẩn mực của Công ước Kyoto.

23

Quy định về bảo đảm

khoản 3 Điều 25 Luật Hải quan, Điều 42 Luật Quảnlý thuế; Điều 19 Thông tư 194

Tính thống nhất, tính hợp lý

-                                 -  Chuẩn mực 5.1 Công ước Kyoto nêu: “Luật pháp quốc gia phải liệt kê các trường hợp trong đó yêu cầu phải có bảo đảm và quy định những hình thức bảo đảm”.

-                     Chuẩn mực 5.7 Công ước Kyoto nêu: “Nếu đã được nộp, khoản bảo đảm phải được thanh khoản càng nhanh càng tốt, sau khi cơ quan hải quan có đủ cơ sở để chấp nhận rằng các nghĩa vụ làm phát sinh bảo đảm, đã được thực hiện đúng quy định”.

Luật Hải quan, Luật Quản lý thuế và các văn bản quy định chi tiết thi hành mới chỉ đề cập đến trường hợp bảo lãnh của các tổ chức tín dụng, chưa có quy định về các hình thức bảo đảm khác cũng như việc thanh khoản các khoản bảo đảm.

Việc thiếu các hình thức bảo đảm khác dẫn đến doanh nghiệp không có cơ hội lựa chọn hình thức bảo đảm khác phù hợp với điều kiện của mình, đồng thời phải trả chi phí bảo lãnh cho ngân hàng

Khuyến nghị:

Bổ sung vào Luật Hải quan và các văn bản hướng dẫn thi hành cần chi tiết các nội dung về bảo đảm như:

- Các trường hợp phải có bảo đảm;

- Đa dạng các hình thức bảo đảm;

- Việc tiếp nhận và thanh khoản các khoản bảo đảm.

24

Quy định về số thuế tối thiểu không thu

Điều 12 Nghị định 87/2010/NĐ-CP; khoản 5 Điều 101 Thông tư 194/2010/TT-BTC; Quyết định số 78/2010/QĐ-TTg

Tính thống nhất,

Chuẩn mực chuyển tiếp 4.13 Công ước Kyoto có nêu: “Luật pháp quốc gia phải quy định trị giá tối thiểu và/hay số thuế hải quan và thuế khác tối thiểu mà dưới mức đó không thu thuế hải quan và thuế khác

Điều 12 Nghị định 87/2010/NĐ-CP; Quyết định số 78/2010/QĐ-TTg ngày 0/11/2010; khoản 5 Điều 101 Thông tư 194/2010/TT-BTC mới chỉ quy định số thuế tối thiểu không thu đối với hành lý, quà biếu, bưu phẩm, bưu kiện thuộc dịch vụ chuyển phát nhanh.

Đối với các loại hình XNK khác thì không có quy định tương tự.

Tính hợp lý

Với một số thuế quá ít thì số thu không đủ bù chi cho các hoạt động quản lý hành chính Nhà nước và chi phí hành chính mà doanh nghiệp phải chịu khi nộp thuế. Do đó, việc quy định số thuế tối thiểu không thu sẽ tạo thuận lợi và tiết kiệm chi phí cho cả cơ quan hải quan và người nộp thuế. Quy định đó cũng tránh được trường hợp doanh nghiệp nợ một số thuế rất ít nhưng vẫn bị cưỡng chế.

Khuyến nghị:

Luật Hải quan và các văn bản hướng dẫn thi hành cần quy định về số thuế tối thiểu không thu đối với mọi loại hình hàng hoá xuất nhập khẩu

25

Phân loại hàng hoá

Điều 72 Luật Hải quan

Tính minh bạch

Về phân loại hàng hoá, Ðiều 72 Luật Hải quan 2001 quy định:

"1. Việc phân loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được thực hiện theo quy định của pháp luật về phân loại hàng hóa….

2. Chính phủ quy định cụ thể việc phân loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu".

Như vậy, Luật Hải quan không quy định nội dung gì về phân loại hàng hoá mà  giao cho Chính phủ quy định cụ thể về phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. Việc giao Chính phủ quy định chi tiết là đúng nhưng trong Luật cần quy định những nguyên tắc cơ bản của việc phân loại.

Khuyến nghị:

Đề nghị bổ sung Điều 72 quy định về nguyên tắc phân loại hàng hoá như:

-          Phù hợp với thông lệ quốc tế;

-          Chi tiết, rõ ràng, không chồng chéo.

 

26

Thời hạn nộp hồ sơ thanh khoản

Điều 132 Thông tư 194/2010/TT-BTC

Tính khả thi

Theo quy định tại điểm b.2 khoản 2 Điều 132 Thông tư 194 thì đối với trường hợp nhập nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu, nếu xuất khẩu sản phẩm ngoài thời hạn nộp thuế (ngoài 275ngày) thì thời hạn nộp hồ sơ thanh khoản, hoàn thuế là 45 ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai xuất khẩu.

Tuy nhiên, sản phẩm xuất khẩu thuộc loại hình này thường được xuất theo các đơn hàng nhỏ (theo yêu cầu người mua) nên số lượng tờ khai xuất khẩu thường rất lớn và đăng ký ở nhiều thời điểm. Doanh nghiệp không thể lập báo cáo thanh khoản cho từng tờ khai xuất khẩu vì "lắt nhắt" mà thường gom nhiều tờ khai cho một đợt thanh khoản. Việc này dẫn đến mỗi lần thanh khoản thường có một vài tờ khai bị vi phạm thời hạn thanh khoản dẫn đến phải xử phạt. Thực tế các doanh nghiệp đều muốn có thể  lập hồ sơ thanh khoản sớm để được hoàn thuế (vì thuế đã nộp rồi), không muốn chây ỳ.

Khuyến nghị:

Đề nghị Bộ Tài chính nghiên cứu quy định chế độ thanh khoản theo định kỳ một cách hợp lý (VD: định kỳ 3 tháng 1 lần thanh khoản những tờ khai xuất khẩu trong Quý trước đó 1 Quý) để vừa giảm số lần thanh khoản, dẫn đến giảm thời gian cho cả hải quan và doanh nghiệp; vừa có tính khả thi hơn để doanh nghiệp có thể tránh bị vi phạm.

           

 

 

 

 

B- NHẬN ĐỊNH CHUNG VỀ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN LUẬT VÀ CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN THI HÀNH LUẬT HẢI QUAN.

I. ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN MỤC TIÊU, HIỆU QUẢ CỦA LUẬT HẢI QUAN VÀ CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH

1. Về bảo đảm quyền tự do kinh doanh:

- Đánh giá chung: Về cơ bản, Luật đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện quyền tự do kinh doanh trong hoạt động XNK.

            - Những tác động tích cực: Quy định chi tiết, cụ thể về thủ tục hải quan đối với từng loại hình XNK;

            - Những hạn chế, yếu kém: Còn một số quy định về cấp thẻ nhân viên đại lý hải quan, hoạt động đại lý hải quan đã can thiệp sâu vào hoạt động của doanh nghiệp.

      - Cho điểm: tốt

2. Về khuyến khích và bảo hộ đầu tư, kinh doanh

            - Đánh giá chung: đã quy định các cơ chế tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư và kinh doanh.

            - Những tác động tích cực: tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư thông qua các chế độ miễn thuế, miễn kiểm tra hoặc tạo thuận lợi khi kiểm tra thực tế hàng hoá (kiểm tra tại nhà máy, chân công trình). Áp dụng quản lý rủi ro để giảm thời gian thông quan, tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh trong XNK hàng hoá.

            - Những hạn chế, yếu kém: còn một số thủ tục chưa hợp lý hoặc chưa thật đơn giản

            - Cho điểm: tốt

    3. Về sự dễ dàng trong tiếp cận và khai thác các nguồn lực cho đầu tư, kinh doanh

            - Đánh giá chung: Luật Hải quan quy định thủ tục cho từng loại hình xuất, nhập khẩu, rất dễ tiếp cận giúp DN lựa chọn hình thức kinh doanh xuất, nhập khẩu phù hợp với khả năng của DN; Tận dụng và khai thác các nguồn lực cho hoạt động kinh doanh xuất, nhập khẩu.

            - Những tác động tích cực: Giúp các DN đa dạng hóa trong hoạt động kinh doanh.

            - Những hạn chế yếu kém: Cần bổ sung đa dang hơn những loại hình kinh doanh: trung chuyển hàng hóa.. quy định rõ hoạt động chuyển cáng, chuyển khẩu để DN mở rông hình thức kinh doanh.

            -Cho điểm: Tốt.

    4. Về bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng

            - Đánh giá chung: Luật Hải quan đã đảm bảo được môi trường cạnh tranh bình đẳng bằng hình thức quy định thủ tục Hải quan như nhau cho từng loại hình xuất nhập khẩu.

            - Những tác động tích cực: Tạo điều kiện bình đẳng cho các doanh nghiệp

            - Những hạn chế yếu kém

            -Cho điểm: Tốt.

5.       Về đáp ứng yêu cầu quản lý của Nhà nước

- Đánh giá chung: Luật Hải quan đã đáp ứng được yêu cầu quản lý của nhà nước trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu.

      - Những tác động tích cực:Giúp Nhà nước chỉ đạo hoạt động xuất nhập khẩu phát triển theo đúng quỹ đạo

      - Những hạn chế yếu kém: Một số quy định còn can thiệp quá sâu vào hoạt động của DN: Quy định hoạt động đại lý hải quan…làm ảnh hưởng đến tính chủ động của DN.

-Cho điểm: Tốt.

6 Về yêu cầu cải cách hành chính, giảm thủ tục và chi phí

     - Đánh giá chung: Luật Hải quan đã bước đầu tạo cơ chế áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động kiểm tra hải quan, giảm thời gian thông quan hàng hoá và chi phí cho doanh nghiệp trong khi làm thủ tục hải quan; từng bước tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, đáp ứng được yêu cầu đổi mới, mở cửa nền kinh tế và cải cách thủ tục hành chính;

      - Những tác động tích cực:Tạo điều kiện thuận lợi cho DN, tiết kiệm chi phí và thời gian cho DN.

      - Những hạn chế yếu kém: Một số quy định về thanh quyết toán hàng miễn thuế, hàng đưa vào khu phi thuế quan… cần xem xét giảm quy định hồ sơ chứng từ nhằm giảm bớt hơn nữa thời gian DN dành cho việc thực hiện những quy định này.

-Cho điểm: tốt.

7.Về mức độ hội nhập kinh tế quốc tế

     - Đánh giá chung: Luật Hải quan  cơ bản đã nội luật hoá các chuẩn mực quốc tế về hải quan, hài hoà hoá thủ tục hải quan Việt Nam với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển thương mại quốc tế.

      - Những tác động tích cực:Tạo điều kiện việc phát triển thương mại quốc tế cho các DN Việt Nam.

            - Những hạn chế yếu kém: Một số nội dung chưa phù hợp với chuẩn mực quốc tế như : Xác định vai trò của bên thứ ba trong hoạt động Hải quan ; Thực hiện thủ tục hải quan ngoài giờ…. đã hạn chế tính hiệu quả của Luật

      -Cho điểm: Tốt.

8. Về yêu cầu phát triển bền vững     

       - Đánh giá chung: Luật Hải quan đã đưa ra cơ chế căn bản về quản lý hải quan trên cơ sở tự khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp; từ đó nâng cao vị thế, vai trò của doanh nghiệp, tạo sự bình đẳng trước pháp luật giữa các chủ thể tham gia trong quan hệ pháp luật hải quan.

      - Những tác động tích cực: Đáp ứng được yêu cầu phát triển bền vững.

            - Những hạn chế yếu kém:

      -Cho điểm: Tốt.

 

 

II. ĐÁNH GIÁ THEO CÁC TIÊU CHÍ:

1.       Về tính minh bạch

- Đánh giá chung: Luật Hải quan đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc và tương đối đầy đủ cho việc thực hiện thủ tục hải quan và các quy định về quản lý hải quan.

            - Những tác động tích cực: bảo đảm tính minh bạch của hệ thống pháp luật; hạn chế cơ chế xin - cho và những sơ hở để một số công chức hải quan biến chất nhũng nhiễu, gây khó khăn cho hoạt động thương mại;

            - Những hạn chế, yếu kém:

            + Một số nội dung chưa được quy định đầy đủ và cụ thể nên chưa có cơ sở để áp dụng hoặc các hiểu và áp dụng không thống nhất: phân định nghĩa vụ của đại lý trước Nhà nước, quy định về các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan, cơ chế phối hợp kiểm tra giữa các Ngành, tiêu chí cụ thể về cơ sở sản xuất để được thực hiện hợp đồng gia công, thủ tục kiểm tra sau thông quan tại trụ sở hải quan, cơ sở pháp lý để thực hiện thủ tục hải quan điện tử, nguyên tắc phân loại hàng hoá

            + Một số quy định chưa rõ ràng, minh bạch dẫn đến quá trình áp dụng có nhiều cách hiểu khác nhau: giá trị tờ khai hải quan, đối tượng miễn kiểm tra thực tế hàng hoá, chế độ thông quan đối với hàng hoá phải kiểm dịch, kiểm tra nhà nước về chất lượng và kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm,  hồ sơ chuyển cảng đối với hàng hoá vận chuyển đa phương thức.

      - Cho điểm: Tốt.

 

2. Về tính thống nhất

- Đánh giá chung: cơ bản đã phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về hải quan, hài hoà hoá thủ tục hải quan Việt Nam với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Các quy định về hải quan cơ bản đã thống nhất giữa Luật hải quan với các luật liên quan, giữa Luật hải quan với các văn bản quy định chi tiết thi hành

            - Những tác động tích cực: Bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật hải quan, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển thương mại quốc tế.

              - Những hạn chế, yếu kém:

+ Một số quy định của Luật Hải quan còn thiếu hoặc chưa thống nhất với quy định của các chuẩn mực quốc tế (Công ước Kyoto): giao dịch với cơ quan hải quan thông qua bên thứ ba và đối tượng được hoạt động với tư cách "người khai hải quan”, cơ chế giải phóng hàng trước, chế độ làm thủ tục hải quan ngoài giờ và ngoài trụ sở hải quan (trừ kiểm tra thực tế hàng hoá), quy định về hợp tác với doanh nghiệp, các trường hợp bảo đảm ngoài bảo lãnh, số thuế tối thiểu không thu, chế độ ưu tiên đối với doanh nghiệp.

+ Một số nội dung của Luật Hải quan còn thiếu thống nhất với các Luật liên quan hoặc thiếu thống nhất giữa các điều trong Luật Hải quan: thời hạn khai bổ sung, đối tượng miễn kiểm tra, thời hạn kiểm tra sau thông quan, thủ tục hải quan đối với hàng chuyển khẩu, chuyển cảng, trung chuyển, áp dụng kiểm soát quyền sở hữu trí tuệ.

+ Một số quy định chưa thống nhất giữa Luật - Nghị định - Thông tư: nộp hợp đồng đối với hàng xuất khẩu, các trường hợp nộp tờ khai tạm để thông quan, tiêu chí doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật hải quan, Chế độ thông quan đối với hàng hoá phải kiểm dịch, kiểm tra nhà nước về chất lượng và kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm,  chế độ ưu đãi đối với hàng hoá trong kho bảo thuế, chế độ cấp phép đối với hàng quá cảnh có lưu kho ngoài khu vực cửa khẩu hoặc đi qua lãnh thổ đất liền, chế độ chuyển cửa khẩu, loại hàng hoá dược gửi kho ngoại quan để đưa vào nội địa,  việc đăng ký danh mục miễn thuế, quyết toán hàng miễn thuế, kiểm tra cơ sở sản xuất hàng gia công chỉ được đề cập ở Thông tư

- Cho điểm: Tốt.

3. Về tính hợp lý

- Đánh giá chung: Thủ tục hải quan đã có nhiều cải cách, bước đầu tạo cơ chế áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động kiểm tra hải quan, giảm thời gian thông quan hàng hoá và chi phí cho doanh nghiệp trong khi làm thủ tục hải quan. Luật Hải quan đã đưa ra cơ chế căn bản về quản lý hải quan trên cơ sở tự khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp.

  - Những tác động tích cực: Thủ tục hải quan đơn giản, tạo môi trường hoạt động XNK bình đẳng giữa các doanh nghiệp, tạo sự bình đẳng trước pháp luật giữa các chủ thể trong quan hệ pháp luật hải quan. Từng bước tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, đáp ứng được yêu cầu đổi mới, mở cửa nền kinh tế và cải cách thủ tục hành chính.

            - Những hạn chế, yếu kém:

+ Một số chuẩn mực quốc tế (Công ước Kyoto) tạo thuận lợi chưa được áp dụng hoặc áp dụng chưa đầy đủ: các nội dung về "bên thứ ba", đối tượng "người khai hải quan", giải phóng hàng trước, độ làm thủ tục hải quan ngoài giờ và ngoài trụ sở hải quan (trừ kiểm tra thực tế hàng hoá), áp dụng đầy đủ các chế độ ưu tiên cho doanh nghiệp, chế độ lưu kho tạm, hợp tác với doanh nghiệp, các trường hợp bảo đảm ngoài bảo lãnh, số thuế tối thiểu không thu.

      + Một số quy định về hồ sơ, thủ tục chưa hợp lý, chính sách quản lý, gây khó khăn cho doanh nghiệp: giá trị của tờ khai hải quan, hợp đồng xuất khẩu đối với các trường hợp không cần thiết cho yêu cầu thu thuế và quản lý hải quan, hồ sơ thanh khoản, khai bổ sung sau khi đã thông quan đối với trường hợp không ảnh hưởng đến thuế và chính sách XNK, trị giá tính thuế đối với trường hợp vận tải đa phương thức, đưa hàng hoá đến địa điểm kiểm tra tập trung, đăng ký danh mục miễn thuế, quyết toán hàng miễn thuế, thanh khoản hàng hoá trong khu phi thuế quan, hạn ưu đãi về thuế đối với hàng hoá trong kho bảo thuế, hạn chế loại hàng được gửi kho ngoại quan,

+ Một số quy định chưa đầy đủ hoặc thiếu thống nhất giữa văn bản cấp dưới với văn bản cấp cao hơn, quy định không hợp lý nên hạn chế quyền tự do hoặc chưa thực sự tạo thuận lợi cho hoạt động XNK: chế độ chuyển cửa khẩu đối với hàng hoá, hoạt động đại lý, thủ tục cấp thẻ nhân việc đại lý, các trường hợp nộp tờ khai tạm để thông quan, cơ chế phối hợp kiểm tra giữa các ngành, cơ sở pháp lý để thực hiện thủ tục hải quan điện tử. 

      - Cho điểm: Tốt

4. Về tính khả thi

- Đánh giá chung: Các nội dung của Luật hải quan và các văn bản quy định chi tiết thi hành đã thực thi trong thực tiễn.

            - Những tác động tích cực: tính tuân thủ pháp luật cao.

            - Những hạn chế, yếu kém: Một số quy định về thủ tục còn không khả thi, khó thực hiện trong thực tế: thời hạn khai và làm thủ tục hải quan ngắn, không có cơ chế chấp nhận việc khai bổ sung sau khi đã thông quan đối với trường hợp không ảnh hưởng đến thuế và chính sách XNK, quy định đưa hàng hoá đến địa điểm kiểm tra tập trung, quy định thời hạn nộp hồ sơ thanh khoản không phù hợp

-Cho điểm: Rất tốt

 

      Việc hoàn thiện khung pháp lý hiện đại, toàn diện và minh bạch là nền tảng để xây dựng chế độ quản lý hải quan và tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại hiệu quả. Chúng tôi hy vọng rằng, kết quả rà soát nêu trên sẽ góp phần giúp Chính phủ cũng như Bộ Tài chính hoàn thiện thể chế pháp luật về hải quan, đáp ứng các tiêu chí thống nhất, minh bạch, hợp lý vảo bảo đảm khả thi trong thực tế.

 

 

 

 

 

                                                                               Phụ lục

DANH MỤC CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT

LIÊN QUAN ĐẾN LĨNH VỰC HẢI QUAN ĐÃ ĐƯỢC RÀ SOÁT

 

1.       Công ước quốc tế về đơn giản hoá và hài hoà thủ tục hải quan (Công ước Kyoto sửa đổi 1999)

2.       Luật Hải quan 2001

3.       Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan năm 2005

4.       Luật Quản lý thuế năm 2006

5.       Luật Thương mại năm 2005

6.       Bộ luật hàng hải năm 2005

7.       Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005

8.       Luật chất lượng sản phẩm, hàng hoá năm 2007

9.       Luật vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2010

10.   Luật Bảo vệ môi trường năm 2005

11.   Pháp lệnh thú y năm 2004

12.   Pháp lệnh về bảo vệ và kiểm dịch thực vật văn 2001

13.   Nghị định 96/2002/NĐ-CP ngày 19/11/2002 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Hải quan

14.   Nghị định 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ quy định thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan;

15.   Nghị định 40/2007/NĐ-CP ngày 16/3/2007 của Chính phủ quy định việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu;

16.   Nghị định số 14/2011/NĐ-CP ngày 16/2/2011 của Chính phủ quy định về điều kiện đăng ký và hoạt động của đại lý làm thủ tục hải quan;

17.   Nghị định số 06/2003/NĐ-CP ngày 22/1/2003 của Chính phủ quy định về việc phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu;

18.   Nghị định số 107/2002/NĐ-CP ngày 23/12/2002 của Chính phủ quy định phạm vi địa bàn hoạt động hải quan; quan hệ phối hợp trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới và các hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan;

19.   Nghị định số 66/2002/NĐ-CP ngày 1/7/2002 của Chính phủ quy định về định mức hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh và quà biếu, tặng nhập khẩu được miễn thuế;

20.   Nghị định 97/2007/NĐ-CP ngày 07/6/2007 của Chính phủ về quy định việc xử lý vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan

21.   Nghị định 18/2009/NĐ-CP ngày 18/02/2009 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 97/2007/NĐ-CP ngày 07 tháng 06 năm 2007 của Chính phủ quy định việc xử lý vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan

22.   Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Quản lý thuế

23.   Nghị định số 106/2010/NĐ-CP ngày 28/10/2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 quy định chi tiết thi hành Luật Quản lý thuế và Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 8/9/2008 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân

24.   Nghị định 12/2006/NĐ-CP ngày 23/1/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý, mua, bán, gia công hàng hoá với nước ngoài

25.   Nghị định 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ  về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ

26.   Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ  về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ

27.   Nghị định 87/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về vận tải đa phương thức

28.   Quyết định số 149/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử

29.   Quyết định số 103/2009/QĐ-TTg ngày 12/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 149/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 về việc thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử;

30.   Quyết định số 19/2011/QĐ-TTg ngày 23/03/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc thí điểm tiếp nhận bản khai hàng hóa, các chứng từ khác có liên quan và thông quan điện tử đối với tàu biển nhập cảnh, xuất cảnh

31.   Thông tư 116/2008/TT-BTC ngày 4/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thủ tục hải quan đối với hàng hoá gia công với nước ngoài

32.    Thông tư số 74/2010/TT-BTC ngày 14/5/2010 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Thông tư 116/2008/TT-BTC ngày 4/12/2008 hướng dẫn thủ tục hải quan đối với hàng hoá gia công với nước ngoài

33.   Thông tư 36/2011/TT-BTC ngày 16/3/2011 của Bộ Tài chính quy định thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh đường bộ

34.   Thông tư  99/2010/TT-BTC ngày 9/7/2010 của Bộ Tài chính quy định thủ tục hải quan đối với bưu phẩm, bưu kiện, hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu gửi qua dịch vụ bưu chính

35.   Thông tư 100/2010/TT-BTC ngày 9/7/2010 của Bộ Tài chính quy định thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh đường hàng không quốc tế

36.   Thông tư 45/2011/TT-BTC ngày 04/4/2011 của Bộ Tài chính quy định thủ tục hải quan đối với hàng hóa vận tải đa phương thức quốc tế

37.   Thông tư 63/2011/TT-BTC ngày 13/5/2011 của Bộ Tài chính quy định về việc áp dụng thí điểm chế độ ưu tiên trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp đủ điều kiện

38.   Thông tư 64/2011/TT-BTC ngày 13/5/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định số 19/2011/QĐ-TTg ngày 23/03/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc thí điểm tiếp nhận bản khai hàng hóa, các chứng từ khác có liên quan và thông quan điện tử đối với tàu biển nhập cảnh, xuất cảnh

39.   Thông tư 80/2011/TT-BTC ngày 09/6/2011 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 14/2011/NĐ-CP ngày 16/02/2011 của Chính phủ quy định về điều kiện đăng ký và hoạt động của đại lý làm thủ tục hải quan

40.   Thông tư số 222/2009/TT-BTC ngày 25/11/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn thí điểm thủ tục hải quan điện tử

41.   Thông tư 194/2010/TT-BTC ngày 6/12/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

42.   Thông tư số 205/2010/TT-BTC ngày 25/12/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định số 40/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu

43.   Thông tư số 49/2010/TT-BTC ngày 12/4/2010 của Bộ tài chính hướng dẫn việc phân loại, áp dụng mức thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu

44.   Thông tư 195/2010/TT-BTC 06/12/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc xử lý hàng hoá tồn đọng trong kho ngoại quan

45.   Thông tư 172/2010/TT-BTC ngày 02/11/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí trong lĩnh vực hải quan

46.   Thông tư số 44/2011/TT-BTC ngày 1/4/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn công tác chống hàng giả và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực hải quan

47.   Thông tư số 05/2003/TT-BTC ngày 13/1/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn xử lý hàng hoá tồn đọng tại cảng biển Việt Nam

48.   Thông tư 193/2009/TT-BTC ngày 01/10/2009 của Bộ Tài chính quy định chi tiết thi hành Nghị định số 97/2007/NĐ-CP ngày 07/06/2007 của Chính phủ quy định việc xử lý vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan và Nghị định số 18/2009/NĐ-CP ngày 18/02/2009 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 97/2007/NĐ-CP

 

 Nguồn: vibonline.com.vn

 

YÊU CẦU DỊCH VỤ/TƯ VẤNLuat Khai Phong tu van
CÔNG TY LUẬT KHAI PHONG
Địa chỉ: P212-N4A, Lê Văn Lương, Thanh Xuân, Hà Nội
Điện thoại: 04.35641441 / 39973456 - Fax: 04.35641442
Email: Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
---------------------------------------------------------------------------------
 
 
Thu hẹp | Mở rộng
 

busy